TS NGUYỄN ĐĂNG VŨ

1. Từ trước thế kỷ XIX, vùng đất huyện Sơn Tây (Quảng Ngãi cũ) thuộc nguồn Cù Bà, đến thời Minh Mạng đổi thành nguồn Thanh Cù. Vào năm 1915, triều đình nhà Nguyễn và thực dân Pháp đổi nguồn Thanh Cù thành đồn Sơn Hà và sau là châu Sơn Hà. Châu Sơn Hà có 5 tổng: Sơn Hạ, Sơn Thượng, Sơn Nham, Sơn Thạch, Sơn Trung, với 47 sách. Sơn Trung lại được đổi thành tổng Ca Dong – là nơi địa bàn cư trú chủ yếu của người Ca-dong (Kayong) trong tỉnh Quảng Ngãi. Tinh, Sơn Dung, Sơn Màu, Sơn Long; xã Sơn Liên được chia tách thành 3 xã: Sơn Liên, Sơn Mùa, Sơn Bao. Rõ ràng là thuở đó, tổng Ca Dong còn khá nhỏ hẹp, nếu như không có những cuộc bàn giao đất đai từ phía tỉnh Kon Tum.
Sau năm 1945, châu Sơn Hà đổi thành huyện Sơn Hà. Các làng, sách thuộc tổng Ca Dong được gọi là xã Sơn Tinh. Phía bắc sông Ring được gọi là Bắc Sơn Tinh, nam sông Ring gọi là Nam Sơn Tinh. Đến năm 1952, xã Sơn Tinh được chia làm 2 xã là xã Sơn Liên, ở phía bắc sông Ring; xã Sơn Tinh, ở phía Nam sông Ring. Nhưng chỉ đến cuối năm 1952, xã Sơn Tinh lại được chia thành 4 xã, là Sơn Tinh, Sơn Dung, Sơn Màu, Sơn Long; xã Sơn Liên được chia tách thành 3 xã: Sơn Liên, Sơn Mùa, Sơn Bao.
Rõ ràng là thuở đó, tổng Ca Dong còn khá nhỏ hẹp, nếu như không có những cuộc bàn giao đất đai từ phía tỉnh Kon Tum.
2. Theo “Lịch sử Đảng bộ huyện Sơn Tây (1930 – 2015)”, NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, xuất bản năm 2017, cũng chính năm 1952, tỉnh Kon Tum đã giao vùng Tà Ngòm (nay thuộc Sơn Lập), Bù Nít (Mahnyt, nay thuộc Sơn Kỳ – Sơn Hà và Sơn Lập – Sơn Tây), và Sơn Bua cho tỉnh Quảng Ngãi.
Để thực hiện chủ trương “Xây dựng căn cứ địa miền núi” của Liên Khu uỷ Khu 5 phục vụ kháng chiến, ngày 20/7/1957, Tỉnh uỷ Quảng Ngãi quyết định tách 8 xã vùng cao Sơn Hà (Sơn Liên, Sơn Bua, Sơn Mùa, Sơn Bao, Sơn 11 Tinh, Sơn Dung, Sơn Màu, Sơn Long) thành lập Khu Bảy (một đơn vị hành chính tương đương cấp huyện).
Đến giữa năm 1959, lại thêm một lần huyện Sơn Hà được mở rộng địa giới hành chính nhờ tỉnh Kon Tum lại tiếp tục giao 6 làng của của huyện Kon Plông cho tỉnh Quảng Ngãi, và rồi 6 làng này được nhập chung với 3 làng của xã Sơn Tinh và 1 làng thuộc xã Sơn Kỳ, thành xã Sơn Lập, đều thuộc Khu Bảy.
Và không dừng lại ở đó, đến cuối năm 1959, tỉnh Kon Tum lại giao thêm cho Khu Bảy: Làng Dũi (Wi Juih), làng Xăng (Wi Axeang), làng Breo (Wi Vreo), làng Dật, làng Lũ, làng Rễ, làng Giỗ, làng Trăng, lập nên xã Sơn Tân. Đến lúc này, Khu Bảy có 10 xã, gồm: Sơn Liên, Sơn Bua, Sơn Mùa, Sơn Bao, Sơn Tinh, Sơn Dung, Sơn Màu, Sơn Long, Sơn Lập và Sơn Tân. Năm 1965, Khu Bảy được mang tên gọi là huyện Sơn Tây.
Năm 1976, huyện Sơn Tây lại nhập với huyện Sơn Hà, thành huyện Sơn Hà như cũ. 10 xã vừa nêu nhập lại thành 4 xã Sơn Mùa, Sơn Tinh, Sơn Tân, Sơn Dung, thuộc huyện Sơn Hà. Nhưng rồi 18 năm sau, vào ngày 6 tháng 8 năm 1994, huyện Sơn Hà lại chia ra thành hai huyện: Sơn Hà và Sơn Tây. 4 xã: Sơn Tinh, Sơn Mùa, Sơn Tân và Sơn Dung, thuộc huyện Sơn Tây, như tên gọi trước năm 1976. Nhưng những cuộc chia, tách đó vẫn không dừng lại.
Ngày 23/6/1999, xã Sơn Mùa được chia ra thành 2 xã là Sơn Mùa và Sơn Bua; xã Sơn Tinh được chia thành 2 xã là Sơn Tinh và Sơn Lập. Lúc này Sơn Tây có 6 xã.
Ngày 13/12/2008, xã Sơn Dung lại được chia thành 2 xã là Sơn Dung và Sơn Long; xã Sơn Mùa được chia thành 2 xã là Sơn Mùa và Sơn Liên; xã Sơn Tân được chia làm 2 xã là Sơn Tân và Sơn Màu. Từ đó đến tháng 6 năm 2025, huyện Sơn Tây có 9 xã: Sơn Bua, Sơn Mùa, Sơn Liên, Sơn Long, Sơn Dung, Sơn Tân, Sơn Màu, Sơn Tinh, Sơn Lập.
Và đến ngày 01/7/2025, thực hiện chủ trương chính quyền địa phương 2 cấp, vùng đất vốn có một nửa đất đai lẫn con người, mà hầu hết là người Ca-dong, từng là vùng đất của tỉnh Kon Tum, giờ lại thành 3 xã Sơn Tây, Sơn Tây Thượng, Sơn Tây Hạ.
3. Bàn giao đất đai, sông suối cho tỉnh Quảng Ngãi, đương nhiên, cũng bàn giao cả con người. Một bộ phận người Ca-dong thuộc tỉnh Kon Tum trở thành người Ca-dong của tỉnh Quảng Ngãi. Bởi vậy, ta không ngạc nhiên gì khi thấy, vào những mùa lễ ăn trâu, người Ca-dong ở Đắk Nên, huyện Kon Plông, Kon Tum lại xuôi dòng sông Ring xuống Wi Ra Lung (thôn Đăk Long, xã Sơn Dung) dự lễ, như ở lễ ăn trâu nhà ông Đinh Văn Lá vào năm 2021, lễ ăn trâu ở nhà ông Đinh Văn Ku vào tháng 3 năm 2025. Nhưng không chỉ ở Wi Ra Lung, nhiều nơi khác cũng vậy, như ở lễ ăn trâu nhà ông Đinh Văn Đàm ở thôn Nước Kĩa xã Sơn Tinh, người Ca-dong ở Ngok Tem, Kon Plông xuôi theo bờ sông Xà Lò về dự lễ. Cách đây chừng hơn mươi năm, ta thường thấy những người Ca-dong tay ôm gà, xách mật ong, hoặc gùi trên lưng gạo, củi, đi ngược suối Ra Manh để qua bên xã Ngok Tem, Đak Trên, Đak Ring – Kon Plông, thăm những người bà con bên đó.
4. Nhưng không chỉ có chuyện bàn giao đất đai ở vùng đất Sơn Hà, Sơn Tây. Theo “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Kon Tum”, tập 1, 1930-1975 (NXB Chính trị Quốc gia, xuất bản năm 1996) trong thời kháng chiến chống Pháp, vào tháng 10 năm 1951, Liên khu 5 thành lập Mặt trận miền Tây (hay còn gọi là Mặt trận 30), bao gồm toàn tỉnh Kon Tum với 4 huyện miền Tây Quảng Ngãi (Ba Tơ, Minh Long, Trà Bồng, Sơn Hà – bao gồm cả Sơn Tây). Sau Hiệp định Genève (7/1954), chính quyền Việt Nam Cộng hòa lập các quận Đak Sút, Đak Tô, Đak Hà (Tu Mơ Rông) và Kon Tum. Phần đất phía đông sông Đak Nghé lập quận Chương Nghĩa (Măng Đen) giao về cho tỉnh Quảng Ngãi, nhưng ngay sau đó lại nhập Chương Nghĩa lại cho tỉnh Kon Tum. Năm 1967, Chương Nghĩa là một “yếu khu” của quân đội Sài Gòn. Về chuyện nhập rồi tách quận Chương Nghĩa – là một tên gọi vốn có từ cách đây hơn 200 năm, mà trong Địa bạ triều Nguyễn, năm Gia Long thứ 12 (1813), có ghi khá cụ thể gồm 6 tổng, từ biển lên rừng (chứ không phải có từ sau năm 1954, chỉ ở tận Măng Đen), cũng như về chuyện lập Mặt trận miền Tây, xin dành cho một bài viết khác. Bởi còn nhiều vần đề cần viện dẫn kỹ lưỡng, mà một bài báo ngắn không thể nào trình bày đầy đủ.
Từ dòng sông Trà đến muôn phương Từ dòng sông Trà đến muôn phương