Thứ Tư , 30 Tháng 9 2026

Người về trong cõi “Tình hoài hương”

THANH THỦY

Ảnh PHONG QUANG

Nhiều mùa xuân trôi qua, người viết và hát “Tình hoài hương” đã nằm ấm êm trong lòng đất mẹ, để lại những dấu chân lãng du khắp hoàn cầu và một cuộc đời nghệ sĩ thú vị đầy sóng gió.

Phải, ông mất vào một ngày cuối đông (27/1/2013), khi Sài Gòn đang rộn rã giao mùa. Tôi còn nhớ, rất đông người trong giới văn nghệ, báo chí, đã lặng lẽ ra vào con hẻm nhỏ đường Lê Đại Hành, nơi nhiều năm qua in dấu chân ông.

“Người về” “…

Chiều nay thời gian đứng im để nghe…” (1)

Khi trở về, ông có một ngôi nhà nhỏ, do công sức của nhiều người chạy vạy và chăm chút cho ông. Ngôi nhà thường vắng vẻ để ông tự do đắm mình trong căn phòng khách vừa vặn, chung quanh là kệ sách, kệ băng đĩa và giàn máy tính quen thuộc mà ông thao tác nhoay nhoáy, làm nhiều người ngạc nhiên vì ít ai nghĩ vị lão niên tóc bạc trắng bềnh bồng U90 mà “giỏi” thế. Ngay cả lúc nhà có khách, ông cũng “cày” biễu diễn và trưng bày khối tài sản âm nhạc đồ sộ của mình trên máy với sự sung sướng thoả thuê của một người giàu có.

Rời máy tính, ông ưa ra ngồi trên chiếc ghế sofa đen dài, gối tựa lưng màu đỏ, rất tương thích với một khung kính treo trang trọng trên tường, có nhung đỏ và hàng chữ vàng óng ánh: PHẠM DUY – trở về cố hương.

Nơi đó, tôi may mắn có khá nhiều ký ức với ông. Có khi đông, khi vắng người, có lúc hai chúng tôi cùng im lặng. Rồi có khi rong ruổi đường Nguyễn Huệ với ông, ngồi trong cafe Ciao nghe ông kể chuyện “dông dài”.

Ông cởi mở, bộc trực, tinh anh, sắc sảo, cả ý tứ và khéo léo với bất cứ ai. Nhưng ông không hề hệch hạc kiểu dễ dãi. Tôi đoan chắc rằng bất cứ người nào, thân thuộc hay sơ giao, nếu đã đến bên cạnh, đều sẽ khắc ghi hình ảnh của ông. Mỗi một cuộc hội ngộ, kể cả phỏng vấn kiểu công việc, dù ngắn hay dài, đều sẽ trở thành nỗi nhớ dài lâu, vì ông “quyến rũ” lắm.

Ông nói giỏi, nhớ lâu, hát tuyệt hay, khúc chiết và thâm sâu. Còn đẹp lão nữa. Từng cái liếc mắt, bĩu môi, từng câu chữ đều ăm ắp biểu cảm. Cứ như ta mở hé hé cửa nhìn, rồi rón rén bước vô một cái nhà kho to lớn bao la, sâu hun hút, nhưng ta sẽ ngạc nhiên vì sự sắp xếp ngăn nắp, vì sự trìu mến lạ lùng của chủ nhân dành cho từng thứ một, dù chỉ là một cái nhà kho.

Tôi còn cảm nhận ông là một người cha khác thường, vì ông yêu 8 người con ruột rà và hàng ngàn đứa con tinh thần, là những tác phẩm âm nhạc đông đúc của mình, yêu một cách lạ lùng. Gần như tất cả các câu chuyện đều xoay quanh “chúng nó”.

Nhắc đến những “cục cưng”, đàn con gái trai, những Duy Quang, Duy Cường, Thái Hiền, Thái Thảo, Duy Minh, Duy Đức, Duy Hùng, Thái Hạnh, ánh mắt của ông dịu dàng, bao la, ấm áp, tình tứ… hãnh diện, và công bằng một cách mênh mông.

Còn những ca khúc, chúng rất nhiều và đẹp đẽ quá. Nhưng không phải vì chúng quá đông quá nhiều mà ông thương đứa nầy nhỉnh hơn đứa kia. Ông nâng niu từng đứa. Vì khuôn khổ bài viết nầy quá hẹp nên tôi không diễn tả được nhiều về tình yêu của ông thủ kho kiêm cha già nghệ sĩ, tôi chỉ có thể ghi lại câu chuyện của “Tình hoài hương” mà ông đã san sẻ với tôi.

Tôi nói với ông tôi đã nghe “Tình ca”, “Tình hoài hương”, “Kỷ niệm”, “Người về”, “Ai bảo chăn trâu là khổ…” (2), “Quê nghèo”… từ lúc ấu thơ chưa đi học, chưa biết chữ. Nghe từ chiếc radio Philips vặn núm dò đài kêu rẹt rẹt, nghe say sưa, nghe nhuần nghe nhuyễn. Khi đã lớn mà chưa khôn, nhưng tôi biết thắc mắc (và tấm tắc), sao “… trời về khuya, vẳng tiếng lúa (ơ) đê mê…”.(3)

– Bác Duy ơi! Cháu mê “tiếng lúa đê mê”. Tiếng Việt của bác nghe êm và đã, như được đi massage…

Ông:

– Cô cũng “mê” ư? Cô biết không? Là nỗi nhớ của tôi đó, khi đã xa quê hương. Lúc chưa đi, tôi thấy quê hương chỉ là “hai bên là hương lúa, xa xa là ngọn tre…”, rồi “… tôi mê trời mây tía, không nghe mẹ gọi về…” (4) nhưng cách xa ngàn dặm rồi, thì tiếng lúa, tiếng gió reo trong lúa… lúc đêm vắng mình cũng nghe được, theo cách của mình. Cô biết không? Hạnh phúc của tôi là được ông Trời “… cho tôi lòng non yếu, dễ khóc, dễ tin theo…”(4). Loạt ca khúc “hoài hương” như định mệnh của tôi, tôi xa miền Bắc, rồi xa Việt Nam, tưởng như không có ngày quay lại. Nhớ, nhớ, vô cùng vô tận. Trước đó, thời ông bà mình, vì không có phương tiện giao thông nên ít đi đâu xa. Sau đó, đến mấy thời kỳ chiến tranh, xảy ra những cuộc di cư xuyên Việt, rồi xuyên hoàn cầu. Sau nầy hoà bình, rất nhiều người lại quay quắt rời quê nhà đi học hành, đi mưu sinh. Chúng ta càng đi càng xa. Cô có nghe ai kể về chuyện Tết tha hương chưa?

– Dạ,… có. Dạ nhiều.

– Khi vào Nam, tôi viết: “… ra khơi, biết mặt trùng dương, biết trời mênh mông, biết đời viễn vông, biết ta hải hồ…” rồi: “… phiêu du, khắp nẻo đây đó, thấy hoàn cầu mơ… khúc đại đồng ca…” (5) là ước ao, là xoa dịu định mệnh của mình.

Rồi ông vui vẻ:

– Nhưng giờ tôi đã về rồi, khó khăn mấy tôi cũng đã về rồi. . . .

Phải, ông đã về rồi. Ông đã tìm mọi cách để trở về, để cùng chúng tôi đi dọc đi ngang, đi làm phim, làm nhạc, làm sách.

Ông còn được đi thong dong, mặc áo nâu, cùng: “… lửa bếp nồng, vòm tre non, làn khói ấm hương thôn…”. Hình ảnh và những lời ông nói, đến giờ vẫn còn in sâu, vẫn văng vẳng trong tôi. Tôi nhớ lắm cách ông diễn tả cánh đồng ruộng và tiếng lúa reo.

(1) Ca khúc “Người về”. Phạm Duy viết 1954 tại Pháp

(2) Ca khúc “Em bé quê” Phạm Duy viết 1953 tại Sài Gòn

(3) Ca khúc “Tình hoài hương”, Phạm Duy viết 1952 tại Sài Gòn

(4) Ca khúc “Kỷ niệm”, Phạm Duy viết 1966 tại Sài Gòn

(5) Ca khúc “Viễn du” Phạm Duy viết 1953 tại Sài Gòn