Truyện ngắn của HÀNG CHỨC NGUYÊN

Căn nhà tranh vách đất nằm bên bờ vực có một khung cửa sổ nhỏ chỉ bằng mấy gang tay nhìn ra bờ tre, xa xa là bãi cát trắng mờ đục ôm lấy dòng sông. Bên cái khung cửa tí ti có tấm phên tre chống lên, anh Hai, không biết từ đâu lôi về một tấm ván sần sùi, kê lên thành cái bàn “cho thằng Huấn có chỗ học”. Anh coi đó là một phần thưởng khi Huấn đậu vào trường trung học công lập duy nhất của tỉnh. Và cũng nhờ cái kết quả ấy, Huấn còn được thưởng một món quà mà theo nó là “quí giá nhất trên đời”: cây viết máy hiệu Pilot.
Cây viết máy hiệu Pilot là món quà của ông anh đi lập nghiệp gần cả chục năm ở Sài Gòn gởi về. Cây viết màu xanh đậm sáng, thon thon nhỏ nhỏ xinh xắn như búp măng mà thỉnh thoảng Huấn thấy nhú lên trong bụi tre già sau vực. Với Huấn, cái gì của cây viết cũng đẹp, từ bên ngoài đến bên trong: nắp viết, cán viết, đồ bơm mực, ngòi viết…, nhưng chính cái nắp viết mới làm Huấn mê hồn: nổi bật trên màu xanh đậm là màu vàng bóng loáng của cái đai để đeo và hai cái khoen tròn đính trên đầu và cuối nắp viết. Cái màu vàng thật lạ, lúc nào cũng bóng loáng, sáng rỡ lên, đến mức có khi nhìn vào Huấn thấy cả đôi mắt mình thấp thoáng trong đó. Nhưng thật ra cái làm Huấn mê hồn thật sự lại là cái âm thanh phát ra khi Huấn mở, đậy nắp viết. Khi mở, viết phát ra tiếng “tách”, tuy nhỏ, nhưng là thứ âm như được chứa sẵn đâu trong nắp phát ra, thanh, trong, êm và ngân ngân; Ngược lại, khi đậy, nó lại phát ra tiếng “tạch”, ngắn, đục, chìm xuống, lẫn đâu trong thân viết. Huấn mê cái âm thanh ấy đến nỗi mỗi lần bắt đầu học hoặc học xong, Huấn cứ mân mê cây viết và mở ra đậy lại cái nắp viết nhiều lần để… tận hưởng cái âm thanh ấy, trước khi bỏ vào bao viết (bao viết, thật ra, mẹ Huấn thấy con thích cây viết quá đã cắt cái lai áo đen cũ may lại…).
Nhưng không phải chỉ mình Huấn mê: ngay dưới bàn, nằm sát bên chân Huấn, con chó Vàng của Huấn dường như cũng mê, mê lắm. Huấn phát hiện điều này vì mỗi khi đậy mở nắp viết, nhìn xuống, Huấn đều thấy đôi mắt của Vàng nhìn lên trong veo, sáng rỡ và cái đuôi như đuôi con sóc của nó cứ ngo ngoẩy đưa qua đưa lại. Và bao giờ cũng vậy, bất cứ sáng khuya chiều tối, hễ Huấn ngồi vào bàn học là Vàng cũng lặng lẽ đến nằm sát bên chân. Học xong, bước ra khỏi ghế, Huấn thường ngồi xuống vuốt ve, có khi ôm Vàng vào người. Những lúc ấy, cái đuôi của Vàng ngo ngoẩy liên tục, có khi “quét” cả vào mặt Huấn. Đôi lúc, thấy thương Vàng quá, Huấn cầm cây Pilot cà cà vào lưng nó, có khi lại dí dí nơi cái mũi đen ướt của nó. Những lúc ấy, khỏi phải nói, Vàng mừng vui đến mức không phải chỉ đầu, tai, đuôi mà dường như cả thân hình nó cứ lắc lắc lư lư, uốn uốn éo éo và miệng thì cứ liên hồi phát ra tiếng ư ử, khẹt khẹt…

Nhưng rồi sự mừng vui của Huấn, của chó Vàng không kéo dài được bao lâu: sau ngày khai giảng năm học mới đâu được chừng tháng thì trời chuyển qua đông. Gió mưa ở đâu kéo về, cứ thông thốc thổi quanh căn nhà bên bờ vực, rít lên từng hồi, lồng vào cả cái khung cửa tí ti chỗ bàn học của Huấn dù Huấn đã hạ cái phên tre xuống. Những buổi gió mưa ầm ào ấy, trong căn nhà tranh vách đất tối lờ mờ, Huấn vẫn thường ngồi bên chíếc bàn kê bằng tấm gỗ sần sùi và con Vàng vẫn nằm phía dưới. Nó cứ ép sát vào chân Huấn. Có lẽ nó sợ những cơn gió thốc và tiếng rít đâu đó quanh nhà.
Mưa kéo dài mấy ngày liền, không dứt. Sang ngày thứ tư thì bỗng nước lụt cuồn cuộn đổ về. Thoáng chốc nước mênh mông, lấp tràn bãi cát, dâng ngập bờ vực, khỏa lấp những gốc tre sần sùi. Nhanh quá: mờ mờ sáng thì nước xoang vào vườn, mấp mé hè nhà.
Khi rời sụp tối thì nước bắt đầu băng qua đường. Nhiều bà con gọi nhau í ới, bồng tống tuông về xóm trước. Mẹ Huấn bắt đầu hoảng hốt. May quá, cậu của Huấn, ở xóm trước, xuất hiện. Như thể chạy giặc, cậu hét lên, thúc giục: “Đi, đi, đi!”. Cậu phụ quơ mấy cái áo, cái quần, tống mấy quyển sách quyển vở vào hai chiếc thúng tre. Anh Hai lập bập tròng thúng vào gánh, đặt lên vai. Mẹ ôm hai chiếc chiếu quấn bên trong mấy cái chăn, mùng. Anh Ba ghì ghì ôm cái bao gạo nhỏ. “Mấy cái chai hũ kia nữa, Huấn, xách đi con”. Trời tối om om. Mưa lại đổ xuống ầm ào. Cậu dắt cả nhà lội nước, đội mưa mò mẫm qua đường đi về xóm trước.
Khi tất cả bước lên cái hè cao nhà cậu, mọi người mới hoàn hồn. Nhưng ngay lúc ấy mẹ bỗng kêu lên đầy sự hốt hoảng: “Con Vàng. Con Vàng”. Một thoáng lặng im, tất cả các đôi mắt đều nhìn ra ngoài trời sũng nước, thăm thẳm tối. Rồi lại cùng thốt lên: “Làm sao đây trời”, “ Nó chết mất, tội quá”… Chỉ có cậu là bình tĩnh trấn an: “Không sao đâu. Chó nó khôn lắm mà”. Lời trấn an của cậu không ngăn được tiếng khóc thút thít trong góc nhà. Đó là tiếng khóc của Huấn. Huấn ngồi đó, tay cứ dụi dụi vào mắt, mếu máo: “Vàng ơi, Vàng ơi…”. Nhưng không phải chỉ con Vàng làm Huấn khóc: khi cả nhà soạn đồ ra, Huấn chăm chăm lục tung tóe hai cái thúng đựng quần áo, sách vở, rồi dựng đứng lên, bù lu bù loa: “Cây viết Pilot, cây viết Pilot đâu rồi!!!”.
Cả đêm mưa lụt ấy, Huấn không ngủ, mắt cứ ướt đẫm. Không, hình như Huấn có ngủ, giấc ngủ đủ cho một giấc chiêm bao về: nó ngồi dưới bàn học, ôm con Vàng vuốt ve rồi cầm cây Pilot cà cà trên lưng nó, dí dí vào cái mũi ẩm ướt của nó… Tỉnh dây, đôi mắt Huấn vẫn còn đẫm ướt.
Rồi mưa tạnh, nước rút. Mấy mẹ con lại bồng tống đội mưa lội bùn quay về.
Gần đến nhà, choàng cái bao đựng chai, hũ lên vai, Huấn vượt lên, bất chấp bùn đất ngập ngụa, băng băng chạy trước vè nhà. Nhà đây rồi: nền khỏa kín một lớp bùn, cánh cửa tre bung ra, một tấm vách đất bị xoi thùng, ló cái khung tre… “Vàng ơi, Vàng ơi”, thả cái bao trên vai, Huấn vừa phóng vào trong, vừa kêu. Bàn học đã nghiêng xuống. Dưới tấm ván sần sùi, Huấn thấy một đôi mắt sáng nhìn lên và con Vàng nặng nề lết ra. Ngoài đôi mắt, cả thân hình nó phủ kín một lớp bùn. Huấn ôm chầm lấy Vàng. Vàng run rẩy ép sát vào người Huấn. Huấn khóc và hình như Vàng cũng khóc. Bỗng Vàng ngo ngoay trườn ra khỏi tay Huấn và nghiêng ngả, nặng nhọc bước đến chiếc cột tre, nằm xuống, hai chân cứ cào cào xuống lớp bùn. Lấy làm lạ, Huấn moi moi lớp bùn, và cái lai áo đen của mẹ hiện ra. Tay run run, Huấn cầm cái bao viết dính đầy bùn, mân mê cây viết Pilot bên trong. Bất giác Huấn ôm ghì lấy Vàng. Huấn khóc và hình như Vàng cũng khóc.
![]()
HÀNG CHỨC NGUYÊN là cây bút phóng sự chuyên “lấy nước mắt” độc giả bằng những câu chuyện thương cảm.
Nhưng cái thương cảm trong những câu chuyện của Hàng Chức Nguyên là tự thân nhân vật, là lẩy ra từ chi tiết thật đời, chứ không phải dùng những tính từ hay mỹ từ.
Đam mê văn chương từ thuở nhỏ, nhưng có lẽ, từ sau khi về hưu, Hàng Chức Nguyên mới dành nhiều thời gian tập trung cho sáng tác truyện ngắn.
Những truyện ngắn của ông, thường rất ngắn, hành văn dung dị, đề tài gần gũi, nhưng lúc nào cũng gieo vào lòng người đọc niềm xúc động chân thành.
“Con Vàng và cây viết Pilot” là truyện ngắn mà Hàng Chức Nguyên dành riêng cho Giai phẩm Xuân Bính Ngọ NGƯỜI QUẢNG NGÃI.
Một câu chuyện, mà có lẽ bất kỳ người gốc quê Quảng Ngãi nào đọc, cũng thấy bóng dáng mình trong đó. Cùng những ký ức về tuổi thơ, những mùa mưa lụt tràn về. Trong truyện ngắn này, có một từ rất địa phương, mà người xa quê lâu năm có khi quên mất. Đó là từ “xoang”: “Thoáng chốc nước mênh mông, lấp tràn bãi cát, dâng ngập bờ vực, khỏa lấp những gốc tre sần sùi. Nhanh quá: mờ mờ sáng thì nước xoang vào vườn, mấp mé hè nhà”.
“Xoang”, có nghĩa gần như tràn, nhưng mới “tráng qua”, “xoang qua”, “láng qua”, “lướt qua”… Nghe êm ru, nhẹ hều, nhưng nhanh như chớp.
Thế đó. Khi nỗi nhớ thành niềm khắc khoải, khi nỗi buồn thành những hành trang vào đời, để rồi khi ngoái lại cũng khi lúc nhìn tới, ta thấy như có cả một bầu trời quê hương đang sống dậy trong trái tim mình, khiến ta như cay cay sống mũi.
TRẦN NHÃ THỤY
![]()
Từ dòng sông Trà đến muôn phương Từ dòng sông Trà đến muôn phương
Hay quá