Với thi đàn, tên tuổi Hoài Vũ hết sức quen thuộc. Những tác phẩm của ông đã đi vào lòng bạn đọc khắp mọi miền Tổ quốc. Thế nhưng đường thơ của ông rất bằng lặng. Bởi suốt một đời, Hoài Vũ lặng thầm dâng hiến cho văn chương.

Nhà thơ Hoài Vũ (1935) tại xã Đức Lân, huyện Mộ Đức, tên khai sinh là Nguyễn Đình Vọng. Nhắc đến Hoài Vũ, có lẽ ít người biết. Nhưng khi nhắc đến “Vàm Cỏ Đông”, “Đi trong hương tràm”, “ Gửi miền hạ” (Anh ở đầu sông em cuối sông),… thì nhiều người sẽ “ồ”, “à” ngay. Vì họ đã quá quen những dòng thơ ấy qua sáng tác của NS Phan Huỳnh Điều, NS Trương Quang Lục…
Hoài Vũ là một người luôn mang trong lòng tình yêu quê hương, đất nước. Năm 19 tuổi, ông đã tập kết ra Bắc. Sau đó khoảng năm 1962 – 1963, ông lại cùng đồng đội “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Những ngày tháng ấy, ông về chiến trường miền Nam. Và nơi đây, ông đã gắn bó máu thịt và xem như là quê hương thứ hai của mình. Và chính mảnh đất ấy đã mang lại cho ông bước tiến trong sự nghiệp thơ ca. Điều đó rõ ràng trong “Vàm Cỏ Đông”: “Ở tận sông Hồng, em có biết/Quê hương anh cũng có dòng sông/Anh mãi gọi với lòng tha thiết:/Vàm Cỏ Đông! Ơi Vàm Cỏ Đông!”. Bài thơ ấy chẳng những đi vào lòng người trưởng thành, biết yêu quê hương thôi. Mà bài thơ ấy, cả những đứa trẻ nhỏ cũng quen tên. Vì bài thơ này từng được đưa vào SGK lớp 3. Không dừng lại ở đó, bài thơ đã đến tay NS Trương Quang Lục – người đồng hương. Khi ấy nhạc sĩ chỉ là công nhân cơ khí. Và ca khúc “Vàm Cỏ Đông” (1966) đã đưa tên tuổi Trương Quang Lục đến một thành công không ngờ trong âm nhạc.
![]()
Nhận xét về nhà thơ Hoài Vũ, nhà thơ – nhà phê bình Mai Bá Ấn (nguyên Chủ tịch Hội Văn học – Nghệ thuật tỉnh Quảng Ngãi) nói: “Vừa là nhà thơ, nhà văn, nhà báo, dịch giả nhưng có lẽ chính thơ đã làm nên tên tuổi Hoài Vũ trong lòng bạn đọc, đặc biệt là những bài thơ được phổ nhạc. Chỉ cần nhắc đến là ai cũng có thể hát lên đôi câu. Là người Quảng Ngãi nên ông có độ sâu lắng trong góc nhìn, sự chắt lọc trong mỗi từ ngữ. Nhưng có lẽ chính cái rộng mở, phóng khoáng của Nam bộ đã làm cho ông vượt thoát, ngân vang như những khúc hát khởi nguyên từ những lời thơ bay bổng”.
![]()
Thơ Hoài Vũ mọc lên xanh dưới bầu trời tăm tối của chiến tranh. Dường như nhà văn, nhà thơ luôn nhìn thấy cái tối tăm, đau khổ. Để rồi họ tìm đến cái tươi sáng, tốt đẹp. Cơn mưa đạn chưa biết đặt dấu chấm hết ở đâu. Nhưng ông vẫn tin tưởng, luôn hi vọng: “Anh ở đầu sông, em cuối sông/ Uống chung dòng nước Vàm Cỏ Đông/ Thương nhau, ta hẹn trong mùa tới/ Anh đón em về, thỏa chờ mong!” (Gửi miền hạ). Bài thơ tình cảm nhưng không ủy mị ấy đã được NS Phan Huỳnh Điểu phổ thành ca khúc “Anh ở đầu sông, em cuối sông”. Thơ ông được tác giả “Ở hai đầu nỗi nhớ” phổ rất nhiều và mỗi ca khúc đều in lại dấu ấn đậm sâu trong lòng thính giả. Đến độ người ta đã quên đi cha đẻ của những tác phẩm ấy. Điển hình phải kể đến “Xanh thẳm Trường Sơn”, “Người ấy bây giờ đang ở đâu”, “Hoàng hôn lặng lẽ” (Chia tay hoàng hôn)…
Suốt cuộc đời ông bền bỉ sáng tác. Đến nay, đã hơn chín mươi tuổi nhưng ông vẫn ngày ngày viết và giữ được sức khỏe rất tốt. Giữa cơn đại dịch Covid-19, năm 2021 ông đã cho ra mắt tập truyện “Gái thời chiến” (NXB Hội Nhà văn) và dịch tập truyện “Hoa trong tuyết” (NXB Hội Nhà văn). Cả cuộc đời ông chỉ in hơn 20 tập sách. Các tác phẩm nổi bật đều gắn với những bài thơ nổi tiếng: “Vàm Cỏ Đông”, “Anh ở đầu sông, em cuối sông” (1989), “Hoàng hôn lặng lẽ”, “Thì thầm với dòng sông” (2023)…
![]()
Trong năm kháng chiến, ông giữ các chức vụ: UV Tiểu ban Văn nghệ khu Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định, UV thường trực Hội Văn nghệ Giải phóng miền nam, TBT báo Văn nghệ Giải phóng (Hội Văn nghệ Giải phóng miền Nam). Từ sau năm 1975, ông làm việc và sáng tác ở các vị trí như: Tuần báo Văn nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam), phó Giám đốc Nhà xuất bản Tác phẩm mới (Hội Nhà văn Việt Nam), UV Ban chấp hành Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, chủ tịch Hội đồng Văn học dịch (Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh), phó Tổng biên tập báo Sài Gòn Giải Phóng (phụ trách số báo bằng tiếng Hoa)… Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1975.
![]()
Cuộc đời Hoài Vũ gắn với “miền xanh”. Ông chia sẻ: “Thật sự tôi bị thiếu sót khi không có một tác phẩm nào viết riêng cho quê nhà. Tôi tiếc lắm. Nhưng vì từ 1947 tôi đã ly hương. Rồi từ ấy đi mãi đến nay nên hình bóng quê nhà trong tôi mờ nhạt lắm. Tuy nhiên, trong “Xanh thẳm Trường Sơn” hay “Người ấy bây giờ đang ở đâu” tôi vẫn đưa hình ảnh Quảng Ngãi vào đó”.
Bởi suốt một đời dâng hiến lặng thầm cho văn chương, thơ ca nên chặng đường văn chương của ông không ồn ào. Thế nhưng những đóng góp của ông cho văn học nước nhà vô cùng giá trị. Ông đến với bạn đọc ở cả thơ, văn xuôi, báo chí, dịch thuật. Tài năng của ông được công chúng công nhận. Nhưng ông không làm đơn xét giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Nghệ thuật vì thấy không cần thiết.
Đã từng có lần tôi hỏi ông, vì sao đến giờ ông vẫn chưa được giải thưởng nhà nước? Ông chỉ cười hiền và trả lời đơn giản, bản thân không làm hồ sơ vì lớn tuổi, làm nhiều thủ tục rất bất tiện và cũng không cần thiết. Ông tâm niệm, nhà văn chỉ cần bạn đọc nhớ đến tác phẩm của mình đã là hạnh phúc và đáng qusy rồi. Những lời tâm sự ấy càng làm cho tôi thêm yêu quý, ngưỡng mộ nhà thơ lớn và người đồng hương của mình.
NGUYỄN NHẬT THANH

Từ dòng sông Trà đến muôn phương Từ dòng sông Trà đến muôn phương