Thứ Năm , 1 Tháng 10 2026

Lễ khao lề lính Hoàng Sa – Một nghi lễ tiêu biểu của lòng yêu nước

Khảo cứu của TS Nguyễn Đăng Vũ

Dọc vùng ven biển Quảng Ngãi cũng như các vùng ven biển khác ở cả nước có nhiều nghi lễ gắn liền với biển. Nhưng có lẽ không có lễ thức nào lại gắn liền với lòng yêu nước, với ý thức bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia trên biển sâu đậm như Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa, vốn từng gắn liền với Đội Hoàng Sa thuở trước, hiện đang thực hành hằng năm vào dịp tháng Hai, tháng Ba trên đất đảo Lý Sơn tỉnh Quảng Ngãi.

Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa đã được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản phi vật thể cấp quốc gia vào năm 2013 – di sản phi vật thể cấp quốc gia đầu tiên của tỉnh Quảng Ngãi.

Bai viết này giới thiệu khái quát về nguồn gốc nghi lễ, diễn trình nghi lễ và ý nghĩa của lễ thức tín ngưỡng độc đáo này.

1. Sự ra đời của Đội Hoàng Sa

Về quần đảo Hoàng Sa đã có một số tư liệu của tác giả trong và ngoài nước, đặc biệt là của các sử thần, các học giả thời phong kiến Việt Nam. Nguồn tư liệu đầu tiên có nhắc đến đảo Hoàng Sa và đội Hoàng Sa là mấy dòng trong lời chú Toản tập Thiên Nam Tứ chí lộ đồ của Đỗ Bá (năm Chính Hòa thứ 7- 1686): “Bãi Cát Vàng phỏng dài 400 dặm, rộng 20 dặm, ở giữa biển khoảng từ cửa Đại Chiêm kéo đến cửa biển Quyết Mông (cửa Sa Kỳ -TG). Gió tây nam thuyền đi phía trong sẽ dạt lại đó. Gió đông bắc mà thuyền đi cũng bị mắc tại đây, đều bị chết đói, của cải phải bỏ lại. Mỗi năm đến tháng cuối đông (Chúa Nguyễn) đưa 18 chiếc thuyền đến đó nhặt vàng bạc”. Sau những ghi chép của Đỗ Bá là các ghi chép liên quan đến Hoàng Sa và đội Hoàng Sa của chúa Nguyễn của Thích Đại Sán trong Hải ngọai kỷ sự (1697), của Pière Poivre, của Bá tước D’Estaing (tài liệu chữ Pháp – 1701) ([2]).

 Trong Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn (lúc làm Hiệp trấn Thuận Hóa,1776) đã ghi về đội Hoàng Sa như sau:

Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng hai nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn sáu tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu tư mà ra biển, ba ngày ba đêm thì đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hóa vật của tàu, như là gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, vòng bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiên, cùng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vân rất nhiều. Đến kỳ tháng tám thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong mới cho đem bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm rồi lĩnh bằng trở về ([3]).

Sách Hoàng Việt địa dư chí của Phan Huy Chú, phần về phủ Tư Nghĩa (Quảng Ngãi) cũng ghi:

Quần đảo Hoàng Sa ở ngoài khơi, các vua đời trước đặt ra quân giữ  Hoàng Sa gồm 70 người, thường là lấy người xã An Vĩnh. Hằng năm cứ đến tháng 3 nhận lệnh mang lương thực trong 6 tháng rồi dùng 5 chiếc thuyền ra khơi, đi trong 3 ngày 3 đêm thì đến đảo, đến nơi vừa canh giữ vừa đánh cá mà ăn. Vật báu ở đó rất nhiều, nên đội quân này vừa làm nhiệm vụ canh giữ vừa khai thác vật báu. Đến tháng 8 thì về cửa Eo (Thuận An) lên tâu nộp ở thành Phú Xuân ([4]).

Sách Đại Nam thực lục (tiền biên), quyển 10, cũng có ghi về đội Hoàng Sa có nội dung tương tự. Sách Đại Nam hội điển sự lệ và Châu bản triều Nguyễn còn ghi chép khá kỹ về việc tấu trình của các bộ và các địa phương cử các binh phu, thủy quân, các phái quan, biền binh đi Hoàng Sa trong thời nhà Nguyễn, đặc biệt thời Minh Mạng. Sách Đại Nam nhất thống chí, quyển II, phần về tỉnh Quảng Ngãi, ngoài phần ghi chép như các sách trước còn ghi thêm rằng: “ …lại đặt đội Bắc Hải, do đội Hoàng Sa kiêm quản, để đi lấy hải vật ở các đảo” ([5]). Trong sách này (dịch và in năm 1970) còn có phần Phụ lục riêng về Quần đảo Hoàng Sa do học giả Đào Duy Anh (người hiệu đính) trích từ các sách đã in trước đó như Việt sử cương giám khảo lược, Hải quốc kiến văn lục, Phủ biên tạp lục. Có lẽ cũng dựa vào các sách trên, các tác giả sách Quảng Ngãi tỉnh chí ([6]), Quảng Ngãi nhất thống chí ([7]) cũng có đề cập đến đội Hoàng Sa với nội dung như trên.

Còn rất nhiều tài liệu khác nói về đội Hoàng Sa, sau nhập vào là đội Trường Đà, sau còn có cả đội Hoàng Sa Nhất, đội Hoàng Sa Nhị…, nhưng vì khuôn khổ bài viết chúng tôi không có điều kiện đề cập, chỉ xin trích dẫn vài tài liệu nêu trên để thấy phần nào nguồn gốc, chức năng của đội Hoàng Sa.

Tuy chỉ trích dẫn vài tư liệu, nhưng cũng có thể thấy, với ý thức về chủ quyền lãnh thổ và nguồn tài nguyên thiên nhiên vô giá ở Biển Đông, nên ngay từ khi vào trấn nhậm phía Nam Chúa Nguyễn đã cho lập đội Hoàng Sa. Đội Hoàng Sa được thành lập chính xác vào năm nào chưa rõ, chỉ biết vào “hồi đầu bản triều”, “hồi đầu dựng nước”, tức  sớm nhất cũng  phải vào cuối thế kỷ XVI hoặc đầu thế kỷ XVII, và bị “triệt bãi” có lẽ là vào những năm thực dân Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam. Các nguồn tư liệu trên cũng cho thấy, 70 suất đinh phiên chế hàng năm cho đội Hoàng Sa trước hết là của làng An Vĩnh, về sau còn có thêm người của làng An Hải.

Về hai làng này, có thể nói thêm như sau: An Vĩnh và An Hải đều nằm theo ven cửa biển Sa Kỳ, trước đây đều thuộc huyện Bình Sơn, đến năm Thành Thái thứ 2 (1890) một phần đất Bình Sơn được tách ra thành châu Sơn Tịnh, và đến năm 1899 mới có tên gọi là huyện Sơn Tịnh. Làng An Vĩnh và An Hải vào thời nhà Nguyễn bao gồm phần đất An Vĩnh, An Hải trong đất liền và An Vĩnh, An Hải ngoài đảo Cù Lao Ré (tức Lý Sơn). Sở dĩ như vậy là vì, theo các gia phả của các dòng họ và văn tế ở đình làng An Hải còn lưu lại cũng như những ghi chép trong sách Non nước xứ Quảng của Phạm Trung Việt thì vào đầu thế kỷ XVI có 7 ngư dân ở làng An Vĩnh trong đất liền dùng thuyền ra đảo  sinh cơ lập nghiệp gọi là thất tộc (Phạm Văn, Phạm Quang, Võ Xuân, Võ Văn, Lê, Nguyễn, Trần), lập nên phường An Vĩnh; 8 ngư dân từ làng An Hải cũng trong cửa biển Sa Kỳ ra chiếm phần đất phía đông của đảo lập nên phường An Hải, gọi là bát tộc (Nguyễn, Trương, Dương, Nguyễn, Nguyễn, Trần, Lê, Võ)([8]). Vì thế trong buổi đầu khai phá, An Vĩnh phường và An Hải phường ở Cù lao Ré trực thuộc An Vĩnh xã và An Hải xã trong vùng cửa biển Sa Kỳ, thuộc huyện Bình Sơn, phủ Tư Nghĩa. Đến ngày 11 – 2 năm Gia Long thứ 3 (1804) mới được tách ra thành 2 xã độc lập (theo đơn phường An Vĩnh xin tách ra khỏi xã An Vĩnh còn lưu tại nhà thờ họ Phạm Quang, An Vĩnh) ([9]) và ngày 1-1-1993 hai xã này được tách riêng ra khỏi huyện Bình Sơn để thành huyện Lý Sơn.

Căn cứ trên các tư liệu đã nói, đội Hoàng Sa được thiết lập dưới thời chúa Nguyễn và sau này là triều Nguyễn,  là người của làng An Vĩnh, An Hải trong đất liền, cả người làng An Vĩnh và An Hải ngoài Lý Sơn, nhưng chủ yếu là người của hai làng An Vĩnh (một số tác giả đã nhầm lẫn khi cho rằng 70 phiên chế hàng năm trong đội Hoàng Sa chỉ là người trên đảo Lý Sơn) ([10]). Và đến đầu thế kỷ XIX trở về sau, đội Hoàng Sa chủ yếu là người An Vĩnh trên đảo Lý Sơn. Xác định được điều đó là nhờ căn cứ một phần vào việc Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc cử Võ Văn Khiết làm Cai đội Hoàng Sa vào năm Thái Đức thứ 9 (1786) (tài liệu còn lưu tại nhà thờ họ Võ Văn – An Vĩnh, Lý Sơn), bởi lúc này, dù Võ Văn Khiết làm Cai đội đội Hoàng Sa nhưng vẫn kiêm cai cơ Thủ ngự cửa Sa Kỳ, và dường như các binh phu xuống thuyền đi Hoàng Sa đều tập trung tại cửa Sa Kỳ để đi Hoàng Sa, dù là các binh phu ở các tỉnh Bình Định, Quảng Nam. Hình như đến thời con ông Võ Văn Khiết là Võ Văn Phú được cử làm Cai đội Hoàng Sa vào năm Gia Long thứ 2 (1803) thì việc đi Hoàng Sa mới chủ yếu là những binh phu trên đất đảo Lý Sơn. Và sau này đến Phạm Quang Ảnh, thuộc họ dòng Phạm (Quang) tại An Vĩnh – Lý Sơn, được cử làm cai đội đội Hoàng Sa vào năm 1815, tiếp theo là Phạm Văn Nguyên (1935), Phạm Hữu Nhật (1836), … thì việc đi Hoàng Sa đã có thêm những viên giám thành, thủy quân, kết hợp cùng đội Hoàng Sa đi đo đạc thủy trình, lập miếu, vẽ bản đồ, dựng bia chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa. Những tư liệu điền dã thu thập từ nhiều nhà thờ thuộc các tộc họ: Pham Văn, Phạm Quang, Võ Văn, Dương, Nguyễn…, đặc biệt là tài liệu Hán Nôm của gia tộc họ Đặng ở làng An Hải (Lý Sơn).Tài liệu này nói rõ về việc triều đình đã giao quan Bố chánh và Án sát tỉnh Quảng Ngãi cử hướng dẫn viên Võ Văn Hùng tuyển chọn các ông Đặng Văn Siểm, Dương Văn Định, cùng các thủy thủ đi Hoàng Sa từ năm 1834 đến những năm sau đó, ít nhất là đến cuối những năm 30 của thế kỷ 19, thời vua Minh Mạng (người viết bài này là người đầu tiên vinh dự được gia tộc họ Đặng cho tiếp cận vào ngày 31/3/2009, và cũng là người trực tiếp tiếp nhận tài liệu này từ gia tộc họ Đặng vào ngày 09/4/2009([11]); và vào năm 2018, chúng tôi cũng tìm thấy một văn khế bán 3 thửa đất ở làng An Hải để cho đội Hoàng Sa phối hợp với Thuỷ quân của triều đình đi Hoàng Sa vào năm 1816, tuy nhiên, do khuôn khổ bài viết, nên trong bài này, chúng tôi chưa có điều kiện đề cập)([12]).

Theo nhân dân Lý Sơn, 70 định suất đi Hoàng Sa vào thời các chúa Nguyễn (cả Trường Sa) cũng như các thủy thủ, đà công, binh phu đi Hoàng Sa cùng với thủy quân của triều đình nhà Nguyễn sau này, được chia đều cho các tộc họ, không phân biệt tiền hiền hay hậu hiền, và được theo nguyên tắc luân phiên nhau, người con trưởng phải ở nhà lo việc tế tự, người con thứ phải đăng lính. Vì thế hầu như toàn bộ các tộc họ thuộc làng An Vĩnh, lẫn làng An Hải trên đảo Lý Sơn đều có người đi lính Hoàng Sa (vào năm 2018, chúng tôi cũng tìm thấy một văn khế bán 3 thửa đất của các dòng họ ở làng An Hải để cho đội Hoàng Sa phối hợp với Thuỷ quân của triều đình đi Hoàng Sa vào năm 1816, nhưng do khuôn khổ của bài viết này, chúng tôi chưa có điều kiện đề cập).

 

Tác giả bài viết tiếp nhận tài liệu Hán Nôm liên quan đến chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa, do đại diện gia tộc họ Đặng làng An Hải, Lý Sơn, hiến tặng cho Nhà nước (này 09/4/2009). Ảnh: Lý Hiền.

 

2. Các di tích gắn với đội Hoàng Sa:

Hiện nay tại làng An Vĩnh vùng cửa biển Sa Kỳ và trên đảo Lý Sơn còn nhiều di tích (chính) gắn với đội Hoàng Sa năm xưa:

– Trong đất liền: chủ yếu tại làng An Vĩnh (nay thuộc Tịnh Kỳ, Sơn Tịnh, nay thuộc thành phố Quảng Ngãi): 1/ Vườn Đồn – nơi lính Hoàng Sa  đóng doanh trại. 2/ Dấu tích Miếu Hoàng Sa – nơi đội Hoàng Sa, thủy quân tế thần trước khi lên thuyền một đi không trở lại. Trước đây trong miếu có thờ cốt ông Hoàng Sa (xương cá voi), gọi là thần Hoàng Sa, mà những người lính Hoàng Sa đưa về từ quần đảo này, cách đây chừng 300 năm (hiện còn ở lăng Chánh, xã Tịnh Kỳ. 3/ Đình làng An Vĩnh, nơi những binh phu Hoàng Sa trong đất liền lẫn Cù lao Ré tế tự trước khi xuất hành, lẫn khi trở về (căn cứ trên những tài liệu hiện còn có thể xác định được đội Hoàng Sa xuất hành tại cửa biển Sa Kỳ, chứ không phải tại Lý Sơn) ([1]).

–Trên đảo Lý Sơn: 1/ Âm linh tự (An Vĩnh), nơi còn đài tưởng niệm chiến sĩ trận vong, ngoài tế tự các âm linh, cô bác bỏ mình trên biển còn tế tự lính Hoàng Sa (phối thờ). 2/ Đình làng An Vĩnh – nơi các binh phu làng An Vĩnh tế tự trước khi xuống thuyền và giờ còn ban thờ các hùng binh Hoàng Sa, cùng câu liễn đối “Ân đức dựng xây miền đảo Lý/ Nghĩa tình bồi đắp dải Hoàng Sa” (hàng năm đều tổ chức Lễ Khao lề). 3/ Nhà thờ họ Võ Văn (An Vĩnh) – nơi còn giữ nhiều tài liệu Hán Nôm có liên quan đến đội Hoàng Sa, thờ Võ Văn Khiết, Võ Văn Phú, Võ Văn Hùng, v.v… là những cai đội, hướng dẫn viên, và các binh phu của dòng họ Võ Văn (và còn tổ chức Lễ Khao lề) và mộ Võ Văn Khiết, cùng khu mộ chiêu hồn họ Võ. 4/ Nhà thờ họ Phạm Quang và khu mộ chiêu hồn cai đội Phạm Quang Ảnh cùng các binh phu hy sinh vào thời Gia Long (An Vĩnh). 5/Nhà thờ tộc họ Phạm Văn (An Vĩnh) có nhiều người đi lính Hoàng Sa và còn nhiều tài liệu Hán Nôm liên quan đến đội Hoàng Sa (và còn tổ chức Lễ Khao lề). 6/ Nhà thờ họ Đặng (An Hải), nơi thờ đà công Đặng Văn Siểm và cũng là nơi lưu giữ tài liệu Hán Nôm đã nói ở trên. 7/ Đình làng An Hải – nơi các binh phu làng An Hải tế tự trước khi đi Hoàng Sa và Nghĩa tự làng An Hải – nơi phối thờ binh phu đi Hoàng Sa một đi không trở lại (còn tổ chức Lễ Khao lề). 8/Mộ Nguyễn Quang Tám – thủy quân đi Hoàng Sa, cùng các khu mộ chiêu hồn…(không kể nhà trưng bày Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải, cụm tượng đài mới hoàn thành vào năm 2010).

Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa của làng An Vĩnh năm 2022 (ảnh Đăng Vũ)

 

3. Nghi lễ – phong tục

3.1. Nguồn gốc nghi lễ

Cho đến nay, người dân vùng biển Quảng Ngãi vẫn còn lưu truyền câu ca:

Hoàng Sa trời nước mênh mông

Người đi thì có mà không thấy về

Hoàng Sa mây nước bốn bề

Tháng hai (hay tháng ba) Khao lề thế lính Hoàng Sa.

Lời ca buồn bã, não ruột trên đây là lời tóm tắt số phận của người đi lính thú Hoàng Sa thuở xa xưa ấy. Không mấy ai còn được trở về. Họ đã như Kinh Kha một đi không trở lại. Biết số phận mỏng manh giữa trời mây non nước, trước khi ra đi, mỗi người phải chuẩn bị cho riêng mình: một đôi chiếu, sẽ là vật dùng để quấn xác nếu không may gục ngã; 7 đòn tre, sẽ là vật nẹp quanh thân; 7 sợi dây mây, sẽ được dùng để bó xác người. Thi thể người lính nếu không may xấu số ấy sẽ được đồng đội thả xuống biển cả mênh mông. Chiếc thẻ bài bằng tre có ghi tên tuổi, làng quê, phiên hiệu được cài trong bó xác sẽ là thông điệp gửi lại cho gia đình và bản quán nếu thi thể chưa kịp làm mồi cho cá dữ, khi sóng cả chưa làm tan tành những nẹp tre cùng mấy sợi dây mây. Mà hình như, qua hình ảnh những khu mộ chiêu hồn không xác người ở làng An Vĩnh, lẫn làng An Hải còn lại đến bây giờ, người đời sau đã kịp nhận ra: không mấy chiếc thẻ tre quay về làng cũ, dù chỉ cần không còn nguyên vẹn. Một đoạn bài văn tế lính Hoàng Sa não ruột sau đây, đã là lời minh chứng cho một nguồn gốc một tục thờ cúng không nơi nào có:

“Cúi nghĩ: Cõi u minh khó lòng tưởng tượng, chất trong chất đục phong hóa từ đầu. Ngoảnh sang Đông, ngóng về Tây, hướng đi mơ màng dễ dàng lạc bến. Ôi sắc nước hương trời xa đôi nẻo, lòng dễ mến yêu: Thủy phủ khiến sức nước ngưng, buổi sáng trong veo như trang điểm, cho hồn các vị tựa hàng tiên. Tiếng sóng động đông dài, tưởng niệm dấu thần phương nao mờ mịt, ngóng hồn thiêng xa vời vợi mong được hàm ơn…” ([2]).

Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa ở đình An Hải, Lý Sơn năm 2018. Ảnh: Đăng Vũ

 

3.2. Nghi thức tế tự

Để có chút niềm hy vọng người ra đi còn may mắn trở về, người dân làng An Vĩnh, lẫn làng An Hải làm Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa, nếu là cho người sắp bước xuống thuyền để lênh đênh cùng trời mây và bọt biển, còn nếu là để tưởng nhớ đến người lính Hoàng Sa không may xấu số thì cũng làm lễ Khao lề nhưng để tế lính Hoàng Sa. Và thường là cho cả hai, thế người còn sống (là hình thức tế sống nhằm cầu an cho người đăng lính trên dặm dài sóng nước) và tế người đã chết.

Về tên gọi và ý nghĩa của lễ thức này, còn được hiểu như sau: Trước hết là chữ “lề”, ở đây được hiểu là “lệ”. Trong chữ Hán, “lề” và “lệ” là một chữ  例, tức thói quen đã thành nếp, thành lệ, cũng là một cách nói để cho xuôi âm của người Lý Sơn, người Quảng Ngãi, là Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa (chứ không nói là lễ khao lệ thế lính Hoàng Sa), tức là lễ khao thành lệ, thành nếp, nhằm thế lính (hay tế) lính Hoàng Sa.

Về thời gian diễn ra nghi lễ, qua khảo sát, có thể thấy, hàng năm vào tháng Hai, hoặc tháng Ba âm lịch, có khi còn đến cả tháng Tư, tức trước ngày những người lính Hoàng Sa chuẩn bị xuống thuyền, các tộc họ trên đảo thực hiện lễ Khao lề thế lính, là việc của gia đình và tộc họ, cũng có khi là việc của làng.

Về lễ tế của các tộc họ: Hiện nay trên đảo Lý Sơn, các tộc họ Võ Văn, Phạm Văn còn thường xuyên tổ chức Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa. Trong lễ Khao lề của tộc họ, thì tộc trưởng (hay chủ nhà) sẽ là người chủ bái trong khi hành lễ. Trưởng các chi phái sẽ là bồi tế. Ngày xưa, theo trí nhớ của những người cao tuổi, người đi lính Hoàng Sa sẽ đứng hầu thần suốt thời gian tế lễ. Ngoài các thành viên trong tộc họ, các gia đình, con cái, cháu chắt, những người đầu quân, trong lễ tế này phải có thầy phù thủy (thầy pháp). Thầy phù thủy với mũ tam sơn, khăn ấn, áo dài là người điều hành lễ tế ([3]).

Khảo sát lễ Khao lề của tộc họ Phạm Văn và theo hồi cố của những người lớn tuổi trong tộc họ Phạm Văn, thì có thể thấy: Ngày 20 tháng 2 là ngày tế chính, nhưng cả tộc họ phải chuẩn bị mọi thứ lễ vật, phân công công việc cho các thành viên trong từng chi phái, từng gia đình trước đó nhiều ngày. Kinh phí thực hiện lễ từ nguồn đất hương hỏa, hoặc ghe thuyền của ông bà để lại mà con cháu canh tác hoặc sử dụng. Ngày nay, đất hương hỏa lẫn ghe thuyền ông bà để lại cũng đã từ lâu không còn, nên các tộc họ phải quyên góp trên cơ sở sự tự nguyện. Từ ngày 17 lễ cúng tế được bắt đầu và dềnh dàng suốt cả 3 ngày, nhưng lễ vật chỉ có trầu rượu, hoa quả. Trong 3 ngày này mọi thứ lễ vật được tiếp tục chuẩn bị, như làm thuyền lễ và bài vị. Đến 3,4 giờ chiều ngày 19 chiêng trống gióng lên báo hiệu cho bà con tộc họ đến để làm lễ yết. Trong lễ yết thầy pháp bắt đầu điều hành việc cúng tế ngoài sân. Đó là lúc thầy pháp nặn những hình nhân bằng bột gạo, hoặc bằng rơm rạ. 9 giờ tối người ta mổ heo, gà. Đến nửa đêm, vào giờ chuyển ngày, lễ tế chính sẽ được kéo dài hàng vài tiếng đồng hồ sau đó.

Lễ vật hiến tế trong nhà cho ông bà, tổ tiên, và các thần linh độ mạng (ở nhà thờ họ) có heo, gà và những thứ sanh tươi khác, tùy điều kiện, và theo các bước từ sơ hiến, á hiến, chung hiến. Thầy pháp không tham dự lễ cúng này. Lễ hiến tế ngoài sân cho những linh hồn đã chu du chín suối vì/phải đi lính Hoàng Sa, Trường Sa theo lệnh vua, như câu ca Hoàng Sa đi có về không / Lệnh vua sai phái quyết lòng ra đi, cho Thủy thần, các âm hồn, cho cả những người chết sông, chết biển khác, ngoài những thứ như trầu, rượu, vàng mã, thịt heo, xôi chè bắt buộc phải có : 1 con gà, 1 con cá nướng, 1 con cua, 1 món gỏi cá nhám. Đó là lệ bắt buộc, là thứ “xưa bày nay làm”, không ai giải thích được vì sao phải cúng các phẩm vật  như vậy. Bên cạnh các thứ phẩm vật đã nêu, trên đàn lễ còn có: muối, gạo, củi, mắm, nồi niêu…, là những thứ mà lính Hoàng Sa phải mang theo trên thuyền (và cũng là những thứ mà người đi làm biển phải mang theo).

 Đặc biệt trong lễ tục này còn có: các linh vị, thuyền lễ và các hình nộm. Các linh vị được làm bằng giấy màu đỏ. Mỗi linh vị cao chừng 20cm, rộng 7cm, ở trên có danh tánh người lính Hoàng Sa trong tộc họ đã bị tử nạn. Trong tộc họ có bao nhiêu người tử nạn vì đi lính Hoàng Sa là có bấy nhiêu linh vị. Linh vị được dán trên bìa cứng, có nẹp gỗ, hoặc tre phía sau, và được cắm trên đài chuối cây (cắt theo chiều ngang thân chuối). Người ta đặt các linh vị này trên đàn cúng. Phía trước mỗi linh vị có 1 cây nến thắp sáng. Khi thầy pháp khấn cầu Hà Bá, Thủy Long cùng các thủy thần trả linh hồn người chết về cho tổ tiên, các linh vị sẽ được đốt ngay sau đó. Thuyền lễ cũng có đế bằng chuối cây, là 3 cây chuối dài khoảng 1,5m – 2m, được xâu lại với nhau bằng các thanh tre (đóng bè). Trên đế bè người ta gắn con thuyền câu làm bằng tre và giấy ngũ sắc, có buồm, cờ, phướn, như thuyền câu, có buồm, dùng để đi Hoàng Sa, Trường Sa. Để chuẩn bị hiến lễ người ta đặt vào trong thuyền các đồ lễ: vàng mã, muối, gạo, nếp nổ, chè xôi, gỏi cá nhám, cua, cá nướng, đầu, chân, tiết, lòng gà…là những thứ được chia ra trên đàn cúng, và nhang đèn (ngày nay có người còn bỏ vào thuyền một ít đồng tiền lẻ vốn đang được sử dụng). Trong lễ tế khao lề thế lính người ta chỉ làm 3 hoặc 4 hình nộm bằng bột gạo (sau này có khi được thay bằng rơm, hoặc bằng giấy). Các hình nhân đội nón gõ, áo kẹp nẹp. Nếu là 4 hình nhân thì người ta sẽ đặt 4 hình nhân đó ở 4 góc thuyền, với quan niệm làm vững con thuyền. Nhưng nếu chỉ có 3 hình nhân (đặt ở đầu, giữa, cuối mạn thuyền) là theo quan niệm “tam nhân đồng hành”, và cũng theo cách hiểu là tổng lái, tổng mũi, tổng khoang (Dù trong dịp cúng thế mạng này trong họ có đến nhiều hơn, hoặc ít hơn 3 người phải đi lính Hoàng Sa) ([4]). Sau khi thầy pháp cúng tế và làm các nghi thức bùa phép trước đàn thờ, “gửi tên tuổi và linh hồn (người sống)” vào hình nhân (theo lễ thức trước đây), thầy pháp đặt các hình nhân vào thuyền. Sau khi đặt vào thuyền các hình nhân, lễ tiễn đưa bắt đầu. Đi đầu là những thanh niên mang cờ, phướn, tiếp theo là 4 thanh niên khiêng thuyền lễ, theo sau là thầy pháp, tộc trưởng, các chi phái trưởng, và đoàn người gồm bà con trong tộc họ, có cả những người trong làng, cùng đội chiêng trống. Ra đến bến thuyền, sau khi thầy pháp khấn vái thần linh bốn phương, thuyền lễ sẽ được thắp đèn rồi được thả xuống nước. Nếu nước cạn thì người ta sẽ dùng thuyền đưa thuyền lễ ra xa, rồi mới thả xuống biển. Kết thúc lễ tế (khoảng 3 giờ sáng), thầy pháp và những người lớn tuổi sẽ về lại nhà thờ họ bắt đầu cuộc giao đãi. Lễ lộc cho thầy pháp sẽ thực hiện sau cuộc giao đãi này. Thanh niên trai tráng, phụ nữ phải đến 6 -7 giờ sáng mới được ngồi vào mâm. Vào buổi trưa sẽ có lễ tạ trong nhà lẫn ngoài sân, do tộc trưởng và các chi phái thực hiện.

Đó là lễ Khao lề của dòng họ, còn Lễ Khao lề của xóm, hay lân, quy mô hơn, gắn liền với lễ tế âm linh của các dòng họ trong xóm, lân. Tiêu biểu là Lễ Khao lề của Âm linh tự, lân (xóm) Vĩnh Lợi, thôn Tây xã An Vĩnh. Lễ vật hiến tế cũng giống như lễ vật hiến tế trong Lễ Khao lề của dòng họ, chỉ khác là các thuyền lễ, có năm là 1 thuyền lễ, có năm 3 thuyền lễ, có năm có 5 thuyền lễ (tùy theo điều kiện), trong đó có 1 thuyền lễ lớn, dài hơn 1m, các thuyền còn lại khoảng 7-8 cm. Thời gian chính thức làm diễn ra Lễ Khao lề là vào sáng sớm ngày 16 tháng 3 âm lịch hằng năm, sau khi Ban khánh tiết thực hiện xong lễ tế âm linh. Các thuyền lễ được thả xuống biển trước mặt Âm linh tự. Có năm còn có múa lân, đội hát bội múa hát nghinh thần trước khi diễn ra lễ chính thức, và vào đêm hôm trước còn có hàng nghìn hao đăng trên mặt biển. Và sau khi kết thúc Lễ Khao lề còn có đua thuyền cho các thuyền đua của làng An Vĩnh.

Lễ Khao lề của làng, là lễ Khao lề chung cho các tộc họ trong làng. Làng An Vĩnh và làng An Hải đều tổ chức lễ Khao lề hằng năm. Làng An Vĩnh tổ chức tại đình làng An Vĩnh vào ngày 15 và ngày 16 tháng 3 âm lịch (trùng với ngày của Âm linh tự, nên những năm lại đây lễ Khao lề của Âm linh tự tổ chức quy mô nhỏ lại, vì để tập trung cho việc tổ chức Lễ Khao lề tại đình làng). Làng An Hải tổ cức tại Nghĩa tự của làng (khác với Âm linh tự, hay nghĩa tự của xóm, như Âm linh tự ở An Vĩnh), bên cạnh đình làng, nằm trong quần thể di tích quốc gia đình làng An Hải, vào ngày 17-18 tháng 2 âm lịch (có năm cũng dịch chuyển một vài ngày trước hoặc sau). Lễ vật hiến tế trong Lễ Khao lề của làng cơ bản giống như lễ vật trong gia tộc hiến tế, tuy nhiên vì là lễ thức chung của làng nên số lượng linh vị nhiều hơn, có khi đến hằng trăm linh vị đủ màu sắc khác nhau (vì có nhiều người đi Hoàng Sa, Trường Sa); thuyền lễ lớn hơn, thường có 5 thuyền lễ; có lễ rước thần, lễ thả hoa đăng, hội đua thuyền, múa lân; có năm còn có hát bội, múa gươm, hát bả trạo, múa võ… Nhờ các hoạt động này mà Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa ở làng không chỉ đơn thuần là một nghi lễ cúng tế mà còn là ngày hội lớn của đảo Lý Sơn cũng như của tỉnh Quảng Ngãi, với sự tham sự có khi đến hàng vạn người.

Nhưng có một vấn đề cũng cần nêu thêm: Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa không phải chỉ có trên huyện đảo Lý Sơn, ít nhất còn có ở nhiều nơi khác dọc ven biển Quảng Ngãi. Khi nêu vấn đề này là dựa trên cơ sở điền dã của tác giả bài viết này. Vào ngày 24 tháng 8 năm 2011, trong quá trình điền dã chúng tôi đã phát hiện thêm một bài văn tế Khao lề thế lính Trường Sa do một gia đình họ Diệp ở thôn Gia Hòa, xã Tịnh Long, huyện Sơn Tịnh (nay thuộc thành phố Quảng Ngãi) truyền đời gìn giữ suốt gần 200 năm qua. Người còn giữ bài văn tế này là ông Diệp Công Thang, lúc đó 88 tuổi. Ông Diệp Công Thang cho biết, bài văn tế này được cha ông – một thầy cúng – đã chép lại cách đây hơn 80 năm trước từ một bản giấy dó được gia tộc lưu truyền. Bài văn tế có tên là văn tế Khao lề thế lính Trường Sa, nhưng cũng có khi gọi là văn tế Khao lề thế lính Hoàng Sa (bởi nếu có người đi Trường Sa thì gọi là lễ khao lề thế lính Trường Sa và đi Hoàng Sa thì gọi lễ thức này là Khao lề thế lính Hoàng Sa). Đây là một dòng họ có nhiều thế hệ làm thầy cúng (thầy pháp). Trước năm 1945, ở Quảng Ngãi, từ Bình Sơn đến tận Đức Phổ, nơi nào có người đi lính Hoàng Sa hay Trường Sa thì những người trong gia đình họ Diệp được mời đi cúng khao lề.

Từ tài liệu điền dã này mà chúng tôi có nhận định (như đã nêu ở trên), là Lễ Khao lề ít nhất đã từng có ở nhiều làng quê trong Quảng Ngãi, nhất là ở vùng ven biển, đảo Lý Sơn. Bởi như nhiều người đã biết, sứ mệnh lịch sử vinh quang và bi hùng của những thủy quân, binh phu, thủy thủ đi Hoàng Sa, Trường Sa trong suốt nhiều thế kỷ, từ thời chúa Nguyễn, đến thời Tây Sơn và thời nhà Nguyễn sau này, không chỉ là sứ mệnh người của Lý Sơn, của Quảng Ngãi, mà còn là sứ mệnh của hàng nghìn người ở các địa phương khác, từ Quảng Bình đến Bình Thuận. Sở dĩ nói ít nhất là Lễ Khao lề đã và đang tồn tại ở Quảng Ngãi, vì cho đến nay, mặc dầu ở các địa phương khác cũng có nhiều người đi Hoàng Sa, Trường Sa nhưng chưa ai tìm thấy tài liệu nào, hay làng xã nào có tổ chức Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa, Trường Sa. Có lẽ công việc sưu tầm, điền dã về lễ thức này còn phải được tiếp tục lâu dài.

Nhìn chung, Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa là lễ thức không phải chỉ là lễ thức của gia đình, tộc họ, mà còn là lễ thức của xóm, làng. Nơi nào có binh phu, thủy thủ đi Hoàng Sa là nơi đó có tổ chức Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa, nhưng tiêu biểu là Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa trên đất đảo Lý Sơn. Có khi Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa còn gọi là Lễ Khao lề thế lính Trường Sa (cho những người đi lính Trường Sa), hoặc là Lễ Khao lề tế lính Hoàng Sa/Trường Sa, nếu là tế cho những người đã mất, nhưng thường là cho cả hai, thế người còn sống và tế người đã mất (vào năm 2019, chúng tôi có tìm thấy thêm một tài liệu Hán Nôm tại nhà thờ họ Phạm gần cửa Đông của cổ thành Quảng Ngãi, nay thuộc phường Nghĩa Chánh, thành phố Quảng Ngãi, có ghi về việc gia tộc tổ chức Lễ Khao lề tế lính Trường Sa, nhưng trong bài viết này, chưa có điều kiện trình bày).

Thuyền lễ trong Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa (ảnh Đăng Vũ)

 

4. Mấy nhận định

Hiện nay trên đảo Lý Sơn còn diễn ra một tục lệ đặc biệt, đó là tục cúng việc lề vào tháng 2, tháng 3 âm lịch. Cúng việc lề là công việc của dòng họ, của cả làng. Không dòng họ nào, gia đình nào bỏ qua lễ thức này vào mùa xuân. Đó là tục lệ mà theo cư dân ở đây: là “khao lệ cầu an”, là tống ôn, là cúng đất, là ngày lễ riêng của cư dân hải đảo, được tổ chức như cái tết thứ 2 sau lễ tết Nguyên đán. Tất cả mọi lễ thức diễn ra tương tự như lễ thế/tế lính Hoàng Sa, từ lễ vật, phẩm vật, thuyền tế, hình nhân, đến ông thầy cúng… Bởi vậy, khi người ta cúng việc lề thường kèm lễ thế/tế lính Hoàng Sa (chỉ thêm có lời khấn vái hay văn tế lính Hoàng Sa), tức 2 lệ nhập làm một, chứ ít khi tổ chức lễ thế/tế lính Hoàng Sa riêng như hiện nay.

Nhưng dù có nguồn gốc là từ lễ cúng việc lề, lễ tống ôn hay từ lễ tục hình nhân thế mạng, rồi được bổ sung thêm nét nghĩa thế lính hay tế lính Hoàng Sa, thì Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa cũng là một sự sáng tạo đặc biệt của người Lý Sơn, của người Quảng Ngãi. Đây là một lễ thức độc đáo, nó không còn là một nghi lễ cúng tế đơn thuần nhằm cầu an, cầu mùa, mà dần bổ sung thêm nhiều lớp văn hóa vốn có ở vùng biển đảo, như đua thuyền, thả hoa đăng, hát bội…, nhất là các mô hình thuyền lễ tượng trưng cho những chiếc ghe câu mà người lính Hoàng Sa đã đi năm xưa, những dụng cụ đi biển, những hình nhân là tượng trưng cho lính Hoàng Sa…, nên nhờ thế Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa đã trở thành một trong những lễ hội (có lễ, có hội) tiêu biểu của cả cả nước, rất đỗi nhân văn, thể hiện đạo lý “uống nước, nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, và đặc biệt hơn, là nó đã trở thành một lễ tục tồn tại hằng nhiều thế kỷ nhằm tôn vinh, tri ân những hùng binh Hoàng Sa, Trường Sa, đã luôn song hành với lịch sử bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Điều cuối cùng, chúng tôi nghĩ rằng, cùng với các tài liệu, sử sách, bản đồ, di tích…, Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa cũng là một bằng chứng sống động về việc Việt Nam đã xác lập chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa từ nhiều thế kỷ trước, là một nghi lễ tiêu biểu của lòng yêu nước, của ý thức bảo vệ chủ quyền lãnh thổ; và cũng vì vậy, nghiên cứu lễ tục này, cũng là một cách góp phần ôn lại lịch sử truyền thống dựng nước, giữ nước, góp phần vào việc bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Phan Huy Chú (1997), Hoàng Việt địa dư chí (Người dịch: Phan Đăng), Nxb Thuận Hoá, Huế, tr.16 .
  2. Lê Quý Đôn (1977), Lê Quý Đôn toàn tập, tập I, “Phủ biên tạp lục” (Người dịch: Đỗ Mộng Khương, Nguyễn Trọng Hân, Nguyễn Trọng Tỉnh; Hiệu đính: Đào Duy Anh), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 119-120.
  3. Hãn Nguyên Nguyễn Nhã (2013), Những bằng chứng về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo HoàngSa, Trường Sa, Nxb Giáo dục Việt Nam.
  4. Lê Ngãi/Ngại (không ghi năm viết), Quảng Ngãi nhất thống chí, bản thảo chép tay lưu tại tư gia ông Lê Hồng Long, Quảng Ngãi.
  5. Nguyễn Quang Ngọc (2018), Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa – tư liệu và sự thật lịch sử (tái bản lần thứ nhất), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
  6. Nguyễn Quang Ngọc, Vũ Văn Quân (1998), “Tư liệu về nguồn gốc, chức năng và hoạt động của đội Hoàng Sa”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, 14 (3).
  7. Quốc sử quán triều Nguyễn (1970), Đại Nam nhất thống chí, (Người dịch: Phan Trọng Điềm, Người hiệu đính: Đào Duy Anh), tập II, Nxb Khoa học – xã hội, Hà Nội.
  8. Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Đình Chi, Khiếu Hữu Kiều (1993), “Quảng Ngãi tỉnh chí”, Nam phong tạp chí, bản đánh máy lưu tại Thư viện tỉnh Quảng Ngãi (148 trang).
  9. Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi (nhiều tác giả, 2016), Biển đảo Quảng Ngãi, lịch sử, kinh tế, văn hoá, Nxb Lao động, Hà Nội.
  10. Nguyễn Đăng Vũ (2008), Quảng Ngãi – mấy vấn đề lịch sử, văn hoá, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
  11. Nguyễn Đăng Vũ (2016), Văn hoá dân gian cư dân ven biển Quảng Ngãi, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam – Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội.
  12. Nguyễn Đăng Vũ (chủ biên, 2020), Di sản Hán Nôm ở Quảng Ngãi – các loại hình và giá trị đặc trưng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

[1] Báo cáo khoa học, Kỷ yếu Hội thảo quốc gia Văn hoá biển, đảo Việt Nam – giá trị truyền thống và khát vọng phát triển bền vững, do Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Bộ biên tập Tạp chí Cộng sản, Thành uỷ – UBND thành phố Hải Phòng tổ chức, tháng 4/2023.

[2] Xem Nguyễn Quang Ngọc (2001), Về quê hương và hoạt động của đội Hoàng Sa, Báo cáo khoa học tại Hội nghị tôn tạo các di tích Hoàng Sa, Trường Sa do Ban biên giới Chính phủ và UBND tỉnh Quảng Ngãi tổ chức, 1.10.2001, Quảng Ngãi.

[3]  Lê Quý Đôn (1977), Lê Quý Đôn toàn tập, tập I, “Phủ biên tạp lục” (Người dịch: Đỗ Mộng Khương, Nguyễn Trọng Hân, Nguyễn Trọng Tỉnh; Hiệu đính: Đào Duy Anh), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 119-120.

[4]  Phan Huy Chú (1997), Hoàng Việt địa dư chí (Người dịch: Phan Đăng), Nxb Thuận Hoá, Huế, tr.16.

[5]  Quốc sử quán triều Nguyễn (1970), Đại Nam nhất thống chí, (Người dịch: Phan Trọng Điềm, Người hiệu đính: Đào Duy Anh), tập II, Nxb Khoa học – xã hội, Hà Nội.

[6]  Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Đình Chi, Khiếu Hữu Kiều (1993), “Quảng Ngãi tỉnh chí”, Nam phong tạp chí, bản đánh máy lưu tại Thư viện tỉnh Quảng Ngãi (148 trang).

[7]   Lê Ngãi/Ngại (không ghi năm viết), Quảng Ngãi nhất thống chí, bản thảo chép tay lưu tại tư gia ông Lê Hồng Long, Quảng Ngãi.

[8] Trong quá trình thực hiện đề tài sưu tầm, nghiên cứu tài liệu Hán Nôm ở Quảng Ngãi, chúng tôi có tìm thấy một văn bản hiện đang lưu tại nhà ông Dương Pháp ở thôn Tây, An Hải, Lý Sơn, có cho biết một số việc khai mở đất đai ở xứ Cù Lao Ré – Lý Sơn đúng vào năm Hoằng Định thứ 4 (1604), đời vua Lê Kính Tông.

[9]  Nguyễn Quang Ngọc, Vũ Văn Quân (1998), “Tư liệu về nguồn gốc, chức năng và hoạt động của đội Hoàng Sa”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, 14 (3), tr. 10 – 12.

[10]  Xem Nguyễn Đăng Vũ (2001), “Từ việc xác lập nguồn gốc đội Hoàng Sa nghĩ về việc tôn tạo các di tích liên quan trên đất Quảng Ngãi”, Văn hóa nghệ thuật, 11/2001, Hà Nội,  tr. 31-33

[11] Vào ngày 10/4/2009, chúng tôi đã bàn giao của UBND tỉnh, và UBND tỉnh bàn giao tài liệu này cho Bộ Ngoại giao cùng ngày.

[12]  Xin xem: Nguyễn Đăng Vũ (chủ biên, 2020), Di sản Hán Nôm ở Quảng Ngãi – các loại hình và giá trị đặc trưng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, và Nguyễn Đăng Vũ (2022), “Một giá trị văn hoá cốt lõi của cư dân đảo Lý Sơn”, in trong Kỷ yếu Hội thảo quốc gia Hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới (Hội thảo do Hội đồng lý luận Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam tổ chức); Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật,; tr. 612 – 625.

[13]  Nguyễn Quang Ngọc, Vũ Văn Quân (1998), “Tư liệu về nguồn gốc, chức năng và hoạt động của đội Hoàng Sa”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, 14 (3), tr. 10 – 12.

[14] Bản dịch của Nguyễn Quang Ngọc-Vũ Văn Quân, tlđd, tr. 19.

[15] Ở Lý Sơn và vùng ven biển Quảng Ngãi ngày xưa có nhiều thầy pháp chuyên đi cúng tế, mà nay cũng còn một số ít, lo việc cúng tống ôn, cúng đất, cúng lính Hoàng Sa, gọi mời thần linh hoặc linh hồn người quá vãng về nhập xác đồng, thậm chí cũng chữa bệnh… Ngày nay, có nơi thầy chùa kiêm làm thầy pháp, và thực hành mọi nghi lễ như thầy pháp.