Tản văn của NHƯ TẤN (Gia Nghĩa – Đăk Nông)

Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn
(Chế Lan Viên)
Khi lớn lên, ý thức được mọi điều, thì nơi tôi từng sinh sống đã trở thành thân thuộc, quý báu như máu thịt của mình.
Hình ảnh hàng ngày thường đến với tôi là những buổi bình minh thơ mộng, khi ông mặt trời vừa ló dạng ở đằng đông, phía sau dãy núi mờ nhạt, xa tít tắp tận chân trời, những tia chiếu của ánh nắng ban mai dịu vàng óng ả, lung linh như ánh hào quang từ dưới chân núi chói lên và dần dần chuyển thành màu đỏ hồng nõn nà, đầy đặn của vầng thái dương ban sớm.
Tôi có cảm giác như mê say thời khắc tràn đầy ấm áp, thanh bình ấy. Cộng hưởng của khí trời thanh tịnh hòa quyện cùng những tiếng vượn hú gọi bầy như đón chào ngày mới, từ nơi rừng sâu vọng lại, tạo thành tiếng vang ngân âm hưởng vô cùng thao thiết, thân thương, rất đỗi gần gũi giữa con người với thiên nhiên và chim thú, thật yêu quý vô vàn. Những lúc ấy, tôi bắt gặp trong ánh mắt mẹ tôi một nỗi buồn xa xứ.
Để đón chào những buổi ban mai thơ mộng đầy lý tưởng, cả gia đình tôi đã phải thức giấc khi tiếng gà gáy canh năm vừa dứt. Nói vậy thôi chứ mẹ tôi dậy không biết bao nhiêu bận trong đêm để chăm sóc giấc ngủ cho anh em chúng tôi. Mẹ tém chăn cho mỗi con vì sợ giá buốt, mẹ lo cho chị Hai tôi có chồng nơi xa không biết cuộc sống thế nào, lo cho việc học hành của tôi có tiến bộ hay không, và còn biết bao nỗi lo khác mà mẹ thường than thở với cha tôi vào những đêm thanh vắng.
Những nỗi niềm ấy luôn văng vẳng trong tai tôi và len theo vào giấc ngủ, rồi mẹ ngồi đó để nhai trầu, mong trời chóng sáng (hình như tuổi già ít ngủ). Khi tôi tỉnh giấc, cơm nước đã lên mâm, những bữa cơm đạm bạc, thân quen, ấm áp đã khắc sâu vào ký ức tôi không bao giờ phai nhạt.
Mở đầu công việc cho mỗi ngày, cha và anh tôi ra đồng cày cuốc chuẩn bị cho vụ mùa, mơ ước một kỳ bội thu; mẹ và chị tôi lo xay bột, đốt lò, tráng bánh đa- cái nghề mà cha tôi thường gọi là “múc lên – đổ xuống” kiếm mắm qua ngày; còn tôi thì cắp sách đến trường, học hành và nô đùa cùng chúng bạn.
Cuộc sống êm ả tràn đầy tình yêu thương của gia đình đã nuôi dưỡng tâm hồn tôi lớn theo thời gian; cứ mỗi độ xuân về, khi nhận chiếc phong bì mừng năm mới của người lớn là đánh dấu bước ngoặt của cuộc đời khi tôi thêm một tuổi.
Rồi dần dà tôi biết thêm quê mình ở tận miền Trung ruột thịt, nơi khô cằn, sỏi đá, nơi mà “Trời rằng: trời hành cơn lụt mỗi năm, à ơi!” như ai đó đã từng ngân nga, còn tôi nghe sao nhoi nhói ở trong lòng, vì sợ người thân của mình phải chạy lũ và chuyện gì sẽ xảy ra khi mực nước dâng tràn, mênh mông, lai láng nhấn chìm ruộng đồng, nhà cửa… Nhưng rồi, tôi thấy vững tâm vì có lần được nghe anh tôi nói rằng: “Quê mình là đất anh hùng, nên sinh ra du kích Ba Tơ, có Thiên Ấn vờn mây lưu luyến tình người, và luôn thôi thúc trả mối thù Sơn Mỹ”.
Những câu nói của anh tôi, nghe sao như câu hò tình tang ba lý (điệu hò “đặc sản” của quê tôi). Từ truyền thống ấy nên chú Tám, chú Chín (em cha) của tôi đã đi vào du kích ở quê nhà rồi tập kết ra Bắc theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, đi làm “bộ đội Cụ Hồ” lập nên những chiến công chói lọi.
Để “cách ly” với những người kháng chiến, nhằm cắt đường liên lạc, cuối những năm năm mươi của thế kỷ hai mươi, chế độ Sài Gòn đưa hàng trăm hộ, trong đó có gia đình tôi, đi di dân lập ấp, hội tụ thành nơi ở mới Nghi Xuân, được chia làm những ấp: Sơn Thành, Sơn Lập, Sơn Hòa. Thời gian đưa đẩy, những người xa xứ, nung nấu ý chí vươn lên tự lo cho cuộc sống, tình quê được gắn kết từ đây. “Bán anh em xa. Mua láng giềng gần”, những người thường đến nhà tôi như dì dượng Tám, cậu mợ Tình, bác hai Bổn, bà Bông… Họ hàng tôi ngày một thêm đông, nhưng khi hiểu ra (được mẹ tôi giải thích) từ sự gắn bó nghĩa tình, quý mến nhau, lâu ngày trở thành thân thuộc làm nên họ hàng làng mạc, cùng ăn giỗ một nhà.
Có những trưa hè oi bức, tiếng ve sầu rỉ rả trên những hàng mít trước nhà, chúng đồng loạt kêu inh ả như hòa tấu một bản nhạc u hoài, mẹ tôi nói với chị tôi: “Nghe tiếng ve kêu sao nhớ ngoài mình quá!”. Chừng ấy thôi, cũng làm cho lòng tôi bồn chồn, suy nghĩ, liên tưởng đến cảnh quê hương tươi đẹp, trong trí tưởng tượng ngây ngô, khờ khạo, non nớt của mình.
Những khi cha và anh tôi đi làm đồng về, trên vai chiều nào cũng vác những bó củi nặng nề, để làm chất đốt thổi cơm, tráng bánh, nuôi sống gia đình. Sự cần mẫn nhọc nhằn bằng sức lao động đã hun đúc nên sự chất phác, thật thà, trở thành cốt cách của truyền thống quê tôi. Cũng những buổi chiều vắng lặng ấy, cũng những hàng mít do cha tôi trồng ở trước sân nhà, những con chim rừng từ đâu bay đến, cất vang tiếng cúc cu! cúc cu!… tạo cảnh thanh bình yên ả.
Mẹ tôi lại nói với cha tôi, như tiếng thì thầm muôn thuở của tình yêu thương chân chất: “Nghe tiếng chim kêu sao nhớ ngoài mình quá chừng!”. Lần này, tôi cảm thấy nhớ quê, nhớ nơi tôi sinh ra tuy chưa một lần được biết, mà biết sao được vì khi tôi xa quê là khi tôi còn ngồi trong thúng, mẹ tôi gồng gánh cùng nhau xa xứ, tôi đòi “về Ổ” (Châu Ổ – Bình Sơn) như sự phản xạ tự nhiên của đứa trẻ lên ba, lên bốn… bây giờ tôi thấy e dè, ngài ngại.
Những chiều chạng vạng, bên ngoài giá lạnh, sương mờ, cả nhà vây quanh bên bếp lửa than hồng cháy rực, với nồi bắp rang ngọt ngào, dẻo quánh, cha mẹ ngồi nhớ những chuyện quê hương, nhớ giếng nước đầu làng, nhớ bờ đê có nhà lầu ông Hiển, nơi cưu mang trận lụt năm Thìn, rồi than phiền lo lắng không biết bây giờ ai còn, ai mất (?). Bất chợt, tiếng tu hú kêu trên lùm rong sau nhà, làm cắt ngang nỗi nhớ, mẹ tôi lại nói với cả nhà: “Nghe tiếng tu hú kêu sao lại nhớ quá ngoài mình!” rồi mẹ tôi giải thích: “Ngoài mình, mỗi lần tu hú kêu là được mùa cá chuồn, ông bà mình hay nói: Tu hú bóp vú cá chuồn”- một hàm ý sâu xa phản ảnh của trời yên biển lặng, sự mưa thuận gió hoà, một cuộc sống no đủ được báo hiệu qua tiếng kêu tu hú. Tôi liên tưởng và vui mừng cháy bỏng một viễn cảnh tốt tươi ở quê mình và cả nơi mình đang sống.
Rồi chiến tranh đi qua, tình người đọng lại, mảnh đất tôi lớn lên gắn bó cả cuộc đời, không thể xóa nhòa trong tâm tưởng. Nơi Sơn Thành có hai cây cốc trước nhà bà Toan, dáng đứng song song uy nghi, gồ ghề, cả mấy người ôm không xuể, mỗi lần đi học ngang qua tôi sợ ma khiếp vía, vì dưới gốc cây có am thờ, lúc nào cũng có ánh đèn tù mù, mùi hương thi thoảng, gây nỗi ám ảnh khó lường. Bạn tôi có thằng Em, thằng Hoành, con Hương cùng chăn bò lúc nhỏ, nhớ con Hương có giọng ca vọng cổ rất mùi.
Sơn Lập đường dốc quanh co, nhà nhà san sát, một tối theo cha cầm đèn lon gắn cây bạch lạp, đi mượn gà cồ bên nhà ông Bạn để về gây giống. “Khó giúp nhau mới thảo, giàu phụ trợ ai khen”, câu nói nầy sao mà nghe chí lý, giúp nhau từng điều nhỏ nhất. Chao ôi! Tôi thấy quá đỗi ân tình! Ở Sơn Hòa có con suối Cộng Đồng ôm quanh đồng lúa mênh mông, như mối tình chung thủy, nơi anh tôi thường hay ra tắm, nơi hò hẹn của bao cặp tình nhân, chắc họ có nhiều kỷ niệm… Còn đối với tôi, thương nhất những người thân hàng ngày lam lũ trên những ô ruộng của mình, cả những khi trời nắng chang chang, mồ hôi nhễ nhại…
Không rõ hai tiếng “ngoài mình” mẹ tôi thường nhắc, có phải là tình yêu da diết của tình làng nghĩa xóm, nơi có ông bà, tổ tiên tôi nằm lại, nơi mẹ tôi có những kỷ niệm một thời. Thế rồi, ngày mẹ tôi đi xa, trong ánh mắt nhạt nhòa của mẫu tử tình thâm, mẹ tôi như nuối tiếc điều gì, rồi mẹ nắm tay tôi lắc lắc: “Mười ơi, hằng năm con nhớ “về mình” lo đắp mộ và hương khói cho ông bà”. Tôi sực tỉnh, hồn quê nơi nuôi dưỡng cho bao lớp người khôn lớn, ngày ấy, bây giờ đã đổi thay; bao người tôi quý, tôi yêu giờ mỗi người mỗi ngả. Bức tranh quê ấy chỉ còn trong tiềm thức, nhưng hồn quê đối với tôi giờ đã trở thành tâm tưởng thiêng liêng như của hồn thiêng sông núi.

Từ dòng sông Trà đến muôn phương Từ dòng sông Trà đến muôn phương