TS. NGUYỄN ĐĂNG VŨ
Lâu nay, tưởng chừng câu chuyện ra đời danh xưng của một vùng đất: Quảng Nghĩa/ Ngãi đã khép lại. Tuy nhiên, sau khi khảo cứu thêm một số tài liệu lịch sử, người viết đặt lại câu chuyện ra đời của danh xưng: Quảng Ngãi.

VỀ SỰ KHẲNG ĐỊNH MỐC RA ĐỜI DANH XƯNG QUẢNG NGÃI: NĂM 1602
Về mốc khẳng định sự ra đời danh xưng Quảng Ngãi là vào năm 1602, trước hết phải kể đến sách Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn. Đại Nam nhất thống chí có ghi: “Thái tổ Gia Dụ hoàng đế trấn giữ Thuận Quảng, năm Nhâm Dần thứ 45 (Lê Hoằng Định năm thứ 3) [1602], đổi phủ Tư Nghĩa làm phủ Quảng Nghĩa, đặt các chức Tuần phủ và Khám lý, vẫn lệ vào Quảng Nam”. Trong sách Khâm định Việt sử Thông giám cương mục do Quốc sử quán triều Nguyễn soạn thảo vào từ năm Tự Đức thứ 9 (1856) đến năm thứ 34 (1881) và in xong vào năm Kiến Phúc thứ nhất (1884). Trong lời chú của các tác giả biên soạn bộ sách này, khi chú giải về vùng đất Quảng Nam, có nêu: Thái tổ Gia dụ Hoàng đế năm 45 đổi đặt làm Quảng Nam dinh, sắp đặt các phủ huyện thuộc dinh Quảng Nam, trong đó có ghi: “Đổi phủ Tư Nghĩa làm phủ Quảng Nghĩa; phủ Hoài Nhân (Nhơn) làm phủ Quy Nhơn”. Ngoài 2 sách viết chung về lịch sử cả nước nêu trên, trong một một số sách lịch sử, địa chí riêng về Quảng 5 Ngãi cũng khẳng định mốc ra đời của tên gọi Quảng Ngãi là vào năm 1602. Trước tiên đó là cuốn Quảng Ngãi tỉnh chí, do Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Đình Chi (chủ trương), Khiếu Hữu Kiều tu soạn, in trên “Nam phong tạp chí” năm 1933. Trong Quảng Ngãi tỉnh chí, các tác giả cho biết: “Năm 1602 mới đặt tên là Quảng Ngãi phủ (nguyên trước là Tư Nghĩa phủ) và đặt quan Tuần vũ cai trị, nhưng còn đương lệ thuộc về Quảng Nam dinh, lúc bấy giờ ông Hoàng thứ sáu làm Trấn thủ Quảng Nam”. Nhưng có lẽ để khẳng định mốc lịch sử hình thành địa danh Quảng Ngãi vào năm 1602, đó là các tác giả sách Địa chí Quảng Ngãi do Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tổ chức biên soạn, xuất bản năm 2008. Sau khi tham chiếu các sử liệu, có lẽ những người biên soạn phần lịch sử của quyển sách dày hàng nghìn trang nêu trên đã dựa chủ yếu vào các bộ sách từng xuất bản trước đó. Sách này viết: “Năm 1602 (Lê Hoằng Định thứ 3), Nguyễn Hoàng tiến hành cải tổ các đơn vị hành chính – lãnh thổ ở hai trấn Thuận – Quảng; theo đó trấn Quảng Nam đổi thành dinh Quảng Nam, phủ Tư Nghĩa thuộc (dinh Quảng Nam) đổi thành phủ Quảng Nghĩa (廣義), cử hai chức Tuần phủ và Khám lý đứng đầu. Danh xưng Quảng Nghĩa (Ngãi) xuất hiện từ đó”. Ngoài các sách vừa nêu, còn một vài tài liệu thứ cấp khác của các tác giả Đào Duy Anh, Nguyễn Đóa – Nguyễn Đạt Nhơn, Nguyễn Đình Đầu, cũng nói về danh xưng Quảng Ngãi có từ năm 1602. Như vậy, các tài liệu nêu trên đều nêu mốc ra đời danh xưng Quảng Nghĩa/Ngãi là vào năm Hoằng Định thứ 3 (1602), do chính chúa Tiên Nguyễn Hoàng cải đặt từ tên phủ Tư Nghĩa thành phủ Quảng Nghĩa/ Ngãi, và việc khẳng định này có lẽ bắt nguồn từ sách Đại Nam nhất thống chí, như đã nói ở trên.
VÀI TÀI LIỆU KHÁC: DANH XƯNG QUẢNG NGÃI RA ĐỜI NĂM 1604?
Đọc vài cuốn sử khác, tôi lại thấy các tác giả nêu: danh xưng Quảng Nghĩa/ Ngãi lại có từ năm 1604, chứ không phải năm Hoằng Định thứ 3 (là năm Nhâm Dần – 1602). Trong bộ sách Đại Nam thực lục do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, ghi chép về các sự kiện từ khi chúa Bản đồ tỉnh Quảng Ngãi của nhà Nguyễn Việt Nam in trong Đại Nam nhất thống chí (Theo wikipedia.org) Nguyễn Hoàng trấn thủ Thuận Hóa (1558) đến đời vua Khải Định (1925), thì ở phần Tiền biên, quyển 1 (phần ghi chép về các sự kiện lịch sử của 9 chúa Nguyễn Đàng Trong từ Nguyễn Hoàng – 1558, đến hết đời chúa Nguyễn Phúc Thuần – 1777), có viết: “Giáp Thìn, năm thứ 47 (tức 1604), lấy huyện Điện Bàn thuộc phủ Triệu Phong đặt làm phủ Điện Bàn quản 5 hạt… lệ vào xứ Quảng Nam. Đổi phủ Tiên Bình làm phủ Quảng Bình, lấy phủ Tư Nghĩa/ Ngãi làm phủ Quảng Nghĩa/ Ngãi…” (1). Có lẽ cũng dựa vào sách này, nhà sử học Phan Khoang, khi viết Việt sử: Xứ Đàng Trong, 1558-777 (cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam), soạn xong năm 1967, xuất bản năm 1970, cũng viết: “Hoằng Định năm thứ 5 (1604), cải đặt và đổi tên các khu vực hành chính hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam. Lấy huyện Điện Bàn thuộc phủ Triệu Phong đặt phủ Điện Bàn… Đổi phủ Tiên Bình làm phủ Quảng Bình, phủ Tư Nghĩa làm phủ Quảng Nghĩa…” (2). Đoạn ghi chép này cơ bản giống với đoạn ghi chép trong Đại Nam thực lục (chính biên) nêu trên. Một nhà biên khảo văn hóa – lịch sử quen thuộc với người Quảng Ngãi vào nửa cuối thế kỷ 20, đó là Phạm Trung Việt. Trong Non nước xứ Quảng, xuất bản lần đầu năm 1962, sau đó tái bản nhiều lần, có ghi như sau: “Năm Hoằng Định thứ 5 (1604) cải đặt và đổi tên các khu vực hành chính Thuận Quảng, đổi phủ Tư Nghĩa thành Quảng Nghĩa, đặt chức Tuần vũ, Khám lý nhưng cũng thuộc Quảng Nam dinh” (3).
Như vậy, rõ ràng ít nhất có 3 tài liệu có ghi chép về mốc lịch sử hình thành danh xưng Quảng Nghĩa/ Ngãi. Còn vì sao khi viết là Quảng Nghĩa, khi là Quảng Ngãi, thì nhiều người cũng đã lý giải về chuyện này: Vì kiêng húy thụy hiệu của chúa Nguyễn Phúc Thái (tức Hiếu Nghĩa hoàng đế – 1650-1691), nên từ Nghĩa sau này phải đọc là Ngãi (như hát nhân nghĩa, thì gọi là hát nhân ngãi – một loại hình dân ca đối đáp ở Nam Trung Bộ).

CÁC TÀI LIỆU CÓ NÊU DANH XƯNG QUẢNG NGÃI, NHƯNG KHÔNG RÕ NĂM NÀO
Ngoài các sách, tài liệu nêu về hai mốc lịch sử hình thành danh xưng Quảng Nghĩa/ Ngãi nêu trên, cũng có những tài liệu không nói rõ, là việc chúa Nguyễn đổi phủ Tư Nghĩa thành phủ Quảng Nghĩa vào năm nào, nhưng chỉ ghi chung, như Phan Huy Chú (1782-1840) viết trong Lịch triều hiến chương loại chí, được soạn trong 10 năm (1809-1819): “Phủ Tư Nghĩa ở giữa trấn Quảng Nam. Về mạn thượng du, núi kéo ngang liền nhau; mạn dưới giáp biển lớn, khoảng giữa địa thế rộng thoáng. Khi Thái tổ hoàng đế xây dựng cơ đồ, đổi làm Quảng Nghĩa” (4); hay một sách khác, cũng của Phan Huy Chú, là sách Hoàng Việt Địa dư chí, khắc in vào năm Thành Thái thứ 9 (1897), tác giả cũng ghi về phủ Quảng Nghĩa cũng có nội dung tương tự (5). Nguyễn Văn Siêu (1799 1872), người từng đỗ Phó bảng năm Mậu Tuất (1838) dưới thời vua Minh Mạng, cũng có nêu danh xưng Quảng Ngãi trong Phương Đình dư địa chí, viết vào thời Tự Đức, sau được khắc in vào năm Thành Thái thứ 12 (1900), đại ý là: Thái tổ Gia Dụ hoàng đế (Nguyễn Hoàng) đổi phủ Tư Nghĩa làm phủ Quảng Nghĩa, đặt chức Tuần phủ và Khám lý thuộc Quảng Nam(6). Có thể còn có những tài liệu khác viết không rõ về năm có danh xưng Quảng Ngãi nhưng người viết bài này chưa được tiếp cận, hoặc chưa kịp kê cứu đầy đủ. Có một tài liệu mà thiết tưởng cũng nên nêu ở đây, đó là phần viết về tỉnh Quảng Ngãi của A.Laborde, một Chủ sự Hành chính của Pháp, in trên Tập san Hội những người bạn Huế xưa (Association et Bulletin des Amis du Vieux Hué, AAVH & BAVH) vào năm 1925, có đề cập đến năm có danh xưng phủ Quảng Ngãi. A.Laborde viết: “Chỉ vào năm 1611, thì lần đầu tiên tỉnh này mới được đặt tên là tỉnh Quảng Ngãi và được cai trị bởi một ông Tuần vũ kiêm coi cả Quảng Nam” (7) . Hình như khi viết về tỉnh Quảng Ngãi, A.Laborde có thể có nhầm về thời gian ra đời danh xưng Quảng Ngãi: Vào năm 1611 và Quảng Ngãi cũng chưa trở thành đơn vị hành chính cấp tỉnh vào thời điểm này, bởi đến năm Minh Mạng thứ 13 (1832), cùng với việc cải tổ đơn vị hành chính khu vực phía Nam, Quảng Ngãi mới chính thức trở thành đơn vị hành chính cấp tỉnh: Tỉnh Quảng Ngãi (8).


TỪ TÀI LIỆU HÁN NÔM SƯU TẦM ĐƯỢC: DANH XƯNG QUẢNG NGHĨA/ NGÃI CÓ TỪ LÚC NÀO?
Trong nhiều năm thực hiện đề tài nghiên cứu Sưu tầm, dịch thuật phân loại, đánh giá tư liệu Hán Nôm ở Quảng Ngãi, nhóm nghiên cứu chúng tôi tìm thấy hơn 20.000 trang tư liệu Hán Nôm còn được gìn giữ tại các đền, miếu, đặc biệt tại các dòng họ trong tỉnh, trong đó có nhiều tài liệu Thị tỷ – ban cho Trần Cẩm làm tham tướng cai quản phủ Quảng Nghĩa (Ngãi) vào ngày 4, tháng 8, năm Quang Hưng thứ 19 (1596). (Ảnh tư liệu của Nguyễn Đăng Vũ) 4- Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Tổ biên dịch Viện Sử học dịch và chú giải, Nxb Sử học, Hà Nội, 1960, tr 137. 5- Xem: Phan Huy Chú, Hoàng Việt địa dư chí, Phan Đăng dịch, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1997, tr 15. 6- Phương Đình dư địa chí hay còn gọi là Đại Việt địa dư toàn biên do Nguyễn Văn Siêu biên soạn, nhưng cũng một số có tài liệu cho biết Bùi Quỹ (1796-1861), đỗ tiến sĩ vào năm Minh Mạng thứ 10 (1829), là đồng tác giả sách này (https://vi.wikipedia.org/wiki/Bùi _Quỹ, truy cập ngày 10/12/2019). 7- A.Laborde, Tỉnh Quảng Ngãi (Province de Quảng Ngãi), Hà Xuân Liêm dịch, in trong tập Những người bạn cố đô Huế, tập XII (năm 1925), Nxb Thuận Hoá, Huế, 2002, trang 289. Bài Tỉnh Quảng Ngãi của A.Laborde có 50 trang (theo bản dịch). 8- Cũng có thể người dịch bị nhầm lẫn chỗ này. Kể cả khi nêu “một Tuần vũ kiêm coi cả Quảng Nam”. Vì chúng tôi không có nguyên bản tiếng Pháp để đối chiếu nên khó có thể nói rõ hơn về vấn đề này. 7 rất quý hiếm. Về kết quả nghiên cứu đề tài này chúng tôi sẽ cố gắng công bố thành sách trong thời gian tới. Trong khuôn khổ vấn đề đặt ra trong bài viết này, tôi xin trích một vài trang tư liệu có liên quan đến sự ra đời của danh xưng Quảng Nghĩa/ Ngãi. Dưới đây là một (trong số nhiều) tài liệu còn lưu tại nhà thờ họ Trần, xưa thuộc làng Địa Thi, nay thuộc thôn Phước Thịnh, xã Đức Thạnh, huyện Mộ Đức, và cũng là tài liệu có niên đại sớm nhất trong số hàng vạn tài liệu Hán Nôm chúng tôi sưu tầm được tên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi: PHIÊN ÂM: Thị Quảng Nghĩa phủ Ký lục Quảng Nham tử Trần Cẩm: Năng ban vận quan thuế hữu công, ưng vi bản phủ Cai phủ Tham tướng, củ suất các huyện Cai, Tri tổng xã, tịnh khách hộ phụ xã trục hạng binh dân thuộc bản xứ Trấn thủ dinh Luân Quận công Tống Phúc tuân tòng bản doanh ứng vụ. Nhược sinh sự nhiễu dân án dĩ quân hiến. Tư thị! Quang Hưng thập cửu niên, bát nguyệt, sơ tứ nhật. DỊCH NGHĨA: Lệnh cho Ký lục phủ Quảng Nghĩa là Quảng Nham tử Trần Cẩm: Vì có công làm nhiệm vụ vận chuyển quan thuế, nên xứng làm Tham tướng Cai phủ, [hãy] đốc trách dẫn dắt [các viên] Cai, Tri tổng xã của các huyện và khách hộ phụ ở xã, cho đến các hạng binh dân theo quan bản xứ Trấn thủ dinh Luân Quận công Tống Phúc tuân theo bản doanh làm nhiệm vụ. Nếu sinh sự nhiễu dân thì cứ theo quân pháp trừng trị. Nay lệnh! Ngày 4 tháng 8 năm Quang Hưng thứ 19. [Ấn] Tổng Trấn Tướng Quân Chi Ấn (9). Đây là một tài liệu, mà theo tôi có nhiều giá trị đặc biệt về lịch sử, hành chính, phù hợp nhiều khía cạnh liên quan đến khoảng thời gian Nguyễn Hoàng được vào trấn nhận xứ Thuận Hóa kiêm Quảng Nam. Trong công trình nghiên cứu về tư liệu Hán Nôm mà tôi đã đề cập trên kia cũng đã có đánh giá sơ bộ về tư liệu này, như về tên gọi Quảng Nghĩa, về chức vụ Ký lục, chức vụ Cai phủ Tham tướng, về công lao của Trần Cẩm, về Trấn thủ doanh Luân Quận công Tống Phúc, về cả vai trò của Nguyễn Hoàng khi cử Tống Phúc cai quản trấn Quảng Nam xưa… Ở đây tôi chỉ xin được đề cập đến hai chữ Quảng Nghĩa/ Ngãi có trên văn bản này, vì liên quan đến bài viết. 9- Đây là bản dịch mà tôi đã nhờ chuyên gia Hán Nôm Hoàng Ngọc Cương thẩm định.

1- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thưc lục (tiền biên), tập Một, phiên dịch: Nguyễn Ngọc -Tỉnh, hiệu đính: Đào Duy Anh, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2002, trang 36.
2- Phan Khoang, Việt sử Xứ Đàng Trong, 1558 – 1777 (cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam), Nhà sách Khai Trí, Sài gòn, 1970, trang 161.
3- Theo Non nước xứ Quảng (tân biên), bản in lần thứ hai, Khai Trí, Sài gòn, 1971, trang 21.
4- Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Tổ biên dịch Viện Sử học dịch và chú giải, Nxb Sử học, Hà Nội, 1960, tr 137.
5- Xem: Phan Huy Chú, Hoàng Việt địa dư chí, Phan Đăng dịch, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1997, tr 15.
6- Phương Đình dư địa chí hay còn gọi là Đại Việt địa dư toàn biên do Nguyễn Văn Siêu biên soạn, nhưng cũng một số có tài liệu cho biết Bùi Quỹ (1796-1861), đỗ tiến sĩ vào năm Minh Mạng thứ 10 (1829), là đồng tác giả sách này (https://vi.wikipedia.org/wiki/Bùi _Quỹ, truy cập ngày 10/12/2019).
7- A.Laborde, Tỉnh Quảng Ngãi (Province de Quảng Ngãi), Hà Xuân Liêm dịch, in trong tập Những người bạn cố đô Huế, tập XII (năm 1925), Nxb Thuận Hoá, Huế, 2002, trang 289. Bài Tỉnh Quảng Ngãi của A.Laborde có 50 trang (theo bản dịch).
8- Cũng có thể người dịch bị nhầm lẫn chỗ này. Kể cả khi nêu “một Tuần vũ kiêm coi cả Quảng Nam”. Vì chúng tôi không có nguyên bản tiếng Pháp để đối chiếu nên khó có thể nói rõ hơn về vấn đề này
9- Đây là bản dịch mà tôi đã nhờ chuyên gia Hán Nôm Hoàng Ngọc Cương thẩm định
Từ dòng sông Trà đến muôn phương Từ dòng sông Trà đến muôn phương