Nhà báo Huỳnh Thúc Giáp viết trên trang cá nhân của anh về việc bất ngờ “khám phá lại” một chữ cũ nhưng rất mới của Bình Định. Đó là từ “ửng”. Không phải là tính từ chỉ trạng thái, ví như “đôi má ửng hồng”, hay chỉ sắc độ, ví như “trái mận chín ửng”, mà nó là phó từ hay động từ. Ví dụ: “Ửng có nghe nó nói ke gì hết” (Đừng có nghe nó nói cái gì hết) Một kiểu lời ăn tiếng nói rất riêng Bình Định, cũng là Nghĩa Bình xưa.

“CHÀY RÀY CON LUNG LẮM NGHE CON”…
Chuyện chữ nghĩa, khơi lên chỉ với mục đích “mua vui cũng được một vài trống canh”, nhưng cũng nổ ra những tranh luận không kém phần sôi nổi và… gay cấn.
Đa số cho rằng làm gì có từ “Ửng”. Có chăng là “Đửng”, biến âm của từ “Đừng”: “Đửng có làm nghen con”, “Đửng có nói nhiều”…
Thấy rôm rả quá, nhà nghiên cứu văn hóa Quảng Ngãi Nguyễn Đăng Vũ liền góp vô mấy câu ca dao xứ Quảng (Ngãi):
“Thuốc ngon chợ Huyện
Giấy quyến Sa Huỳnh
Nẫu xa (thì) mược nẫu
Hai đứa mình đửng (đững) xa”
Vậy là đã rõ rồi, “đửng”, tức “đừng” chứ không phải “ửng”. Nhà báo Huỳnh Thúc Giáp bị “ọt rơ” (hors-jeu/việt vị) rồi. Vui cả làng.
Nhưng, đọc kỹ các bình luận thì tôi thấy có một người góp ý rất có lý có tình. Theo đó, chữ “ửng” không phải không có, chưa từng xuất hiện; mà đó là một biến âm. Hay nói dễ hiểu, đó là cách nói “nũng nịu”: “đửng” = “ửng”.
Phải nói là tôi khoái và tán đồng với cách cắt nghĩa này. Bởi vì tôi cũng từng sống ở Qui Nhơn – Bình Định một thời gian, bạn bè, người quen, thậm chí vợ tôi cũng là người Bình Định, nên tôi hiểu phần nào tập tính ngôn ngữ của xứ Nẫu Đồ Bàn. Ví dụ: “Tui nhớ ông lắm đó”, là bình thường, nhưng khi nhớ quá, khi muốn nũng nịu, hoặc thân thương, người Bình Định sẽ nói: “Tui nhớ ông lắm ó”. “Tết ở quê vui lắm, mày về i”, tức “Tết ở quê vui lắm, mày về đi”. Những “ó”, “i” hay “ửng”… là ngôn ngữ nói, vẫn tồn tại trong đời sống hằng ngày, nó biểu lộ tâm tính và phản ánh tâm hồn người quê mộc mạc.
Cách đây 15 năm, tình cờ đọc cuốn “Những bức thư đầm ấm” (tập hợp những bức thư Quách Tấn và Nguyễn Hiến Lê gửi cho nhau từ khoảng 1966-1984, từ hai địa chỉ Nha Trang và Sài Gòn), trong một thư của Quách Tấn, tôi gặp một từ cũ của Quảng Ngãi, khiến lòng mình xúc động.
Từ gì vậy? Xin thưa đó là từ ngầy. Ngầy nghĩa là la/mắng. Người nhà quê miền Trung ngày xưa thường ít khi nói la mà kêu ngầy.
“Chày rày con lung lắm nghe con, không chịu chăm chỉ học hành rồi ba má con nó ngầy, nó uýnh”, tôi vẫn nhớ lời bà nội nói với tôi ngày thơ bé.
Câu này, người Quảng Ngãi nghe là hiểu liền, nhưng người “ngoại tỉnh” thì cần phải có “phiên dịch” chuyển ngữ một chút xíu: “Hổm rày/ Dạo này, con hư/nghịch lắm nha con, không chịu chăm chỉ học hành rồi ba má con nó la, nó đánh”.
NGÔI NHÀ KÝ ỨC
Nhiều người cho rằng, thời này thế giới phẳng, ngôn ngữ cũng có sự giao thoa, thành cái gọi là “ngôn ngữ đại chúng”. Ví như người Quảng Ngãi bây giờ cũng kêu “bố” như người miền Bắc. Cái bùng binh ở Sài Gòn giờ cũng thành cái… vòng xuyến. Vậy thì có nhất thiết phải đi tìm, lượm lặt, cất giữ lại tiếng quê xưa không?
Tôi nghĩ đó là câu hỏi mà không nhất thiết phải có câu trả lời.
Tôi thích tìm về miền quê xưa, trong miền ngôn ngữ nguyên bản, không phải với tâm thế và nhiệm vụ của một nhà ngôn ngữ, hay nhà nghiên cứu văn hóa. Mà, đơn giản, tôi chỉ muốn tìm về những ngôi nhà xưa của ông bà mình, trong đó có khu vườn ký ức của riêng tôi.
Quảng Ngãi có những từ ngữ rất lạ, mà vùng khác không có, ngay cả Quảng Nam và Bình Định sát nách cũng không hề tương tự. Ví dụ, người Quảng Ngãi hay nói: “Ba cái đồ yêu”, thì “đồ yêu” không có hàm nghĩa là tình yêu, hay yêu thương. “Đồ yêu”, có thể hiểu là “đồ bỏ đi”, hay “chuyện vặt/ chuyện nhỏ”. “Ba cái đồ yêu đó quan tâm làm gì cho mệt đầu”, hoặc chỉ ngắn gọn “Đồ yêu”.
Cái túi áo túi quần, người Quảng Ngãi kêu là cái “thụi”, cái hộc bàn kêu là cái “thoại”, một vật dụng để đựng lúa, như cái sọt tre, khi xưa kêu là cái “nừng” giờ không còn thấy nữa.
Ngày trước, đám cưới, rước dâu về nhà trai thường có một người đi trước gánh đôi thùng của hồi môn, kêu là “gánh xiểng”. Giờ cũng không còn. Có người cho rằng cái xiểng cũng là cái nừng, nhưng theo trí nhớ của tôi thì không phải, xiểng có cặp có đôi, còn nừng thì cũng một cặp, nhưng một cái cũng gọi là nừng. Còn chưa thấy ai bưng một cái xiểng.
Riêng cái “ui” (hay uôi) tức cái vò đựng don, gánh đi bán dạo của người Quảng Ngãi xưa thì dường như chỉ người Quảng Ngãi mới có.
“Nghèo nghèo nợ nợ lấy cô vợ bán don
Lỡ mai có chết cũng còn cặp ui”
(Ca dao Quảng Ngãi)
Tôi hỏi nhiều người, cái ui là gì, thì không ai trả lời cho cụ thể, thỏa đáng cả. Hình thù nó như cái vò. Cũng có thể là cái “âu” đọc trại đi, kiểu như “đửng” và “ửng” đề cập ở trên. Nhưng đây chỉ là phỏng đoán. “Nói có tích, dịch có tuồng”, câu chuyện chữ nghĩa, là câu chuyện của cả một đại dương mênh mông.
Mà không hiểu sao, người Quảng Ngãi có nhiều câu “độc lạ” quá. Ví dụ:
– Bấy nhiêu mấy nê?” tức là: “Bấy nhiêu đây thôi hả?”
– Lan lác/ lác lác = khùng khùng, tâm thần (Thằng đó nó cứ lác lác)
– Xí mê = dừng lại
– Mắc điếng = mắc quá (Sau lụt, đi chợ mua rau mắc điếng)
– Phỉnh = lừa (Ông đừng có mà phỉnh tui)
– Bãi héc = thôi đi
…

CÒN “LỦ KHỦ” NHỮNG TỪ QUÊ
Một người đi xa, ngày Tết về quê, tình cờ gặp bạn cũ, là bạn nối khố ngày xưa, bạn chăn bò, bạn học cái thuở dùng chung cái bình mực tím, hết mực không có tiền mua thì bứt mấy trái mồng tơi pha làm mực. Nó lợt nhách, nhưng vẫn chấm ngòi bút lá tre mà viết đỡ.
Gặp nhau mừng quá, bạn hỏi: “Hẳn không?”
Nghe bạn hỏi thì cay sống mũi. Xúc động phần lâu lắm mới gặp bạn, phần vì như mấy kiếp mới nghe từ “hẳn không?”. “Hẳn” tức là “hẳn hoi”, là “mạnh”, “khỏe”; “Bạn hẳn không?” tức “Bạn khỏe không?”. Chỉ có người ở quê lâu mới cùng dùng từ nguyên bản đó.
“Mình cứ sống đàng hoàng tử tế, không đụng tới ai, nhưng gặp đứa ngang ngược, vô đây phá làng phá xóm là… uýnh óc”.
“Uýnh óc”, cũng là một từ rất riêng Quảng Ngãi. “Uýnh óc”, không phải là đánh trên đầu trên óc, mà “đánh liền”, “đánh ngay tức thì”. Có người cho rằng, “uýnh óc” có lẽ là “uýnh ót”. Nhưng cũng không phải là đánh chỗ cái ót (sau đầu), mà đánh một cái ót/ cái rọt (như uống cái ót) Tóm lại, là đánh nhanh, không chần chừ, dứt dạt.
Ngoài “uýnh óc” thì ở Quảng Ngãi còn có một từ “không đụng hàng”, đó là: “Vít số”.
Theo tôi, đây là từ ghép, một sáng tạo ngôn ngữ rất riêng Quảng Ngãi. Vít là con ốc, cái vít, bù loong… dùng để định vị, bắt chặt một vật gì đó. Còn số, hiểu là số phận, số mệnh. “Vít số” tức là số ngon lành, không có trật đi đâu hết. Cũng có khi người dùng đảo ngược “vít số” thành “số vít”. Và câu thành ngữ: “Chắc như vít” đã th ay cho câu “Chắc như đinh đóng cột”. Cái thú vị nằm ở chỗ đó.
Đía (ba đía) = nói dóc, châm chọc, nói thêm nói bớt (Cha chỉ giỏi đía)
Sử (xử) = bày trò (Mày đừng có xử hư nó)
Cái tộ = cái tô/ bát Ảng = lu đựng nước
Xửng = tạnh mưa (Trời xửng rồi, ra đồng thôi)
Cái quạu/ cạu = cái rổ nhỏ
Chửng chàng = từ tốn/ chậm rãi (Coi đi đứng chửng chàng chứ để té nghen con)
…
Còn nhiều từ quê lắm, mà trong một lúc, một buổi hay một ngày, không thể nào “lần hồi” hết được.
Với những gì viết ở trên thì chắc chắn chưa thể nào kể ra hết được những từ ngữ đặc trưng. Mà nói như người Quảng Ngãi thì còn “ít nhôm” (rất ít), đúng ra nó phải “lủ khủ” (rất nhiều) chứ đâu chỉ “bấy nhiêu mấy nê” (bấy nhiêu đây thôi sao).
TRẦN NHÃ THỤY
Từ dòng sông Trà đến muôn phương Từ dòng sông Trà đến muôn phương